Hiển thị danh sách thành viênThành viên  Thư kýThư ký  Sự kiệnSự kiện  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
 Vinanet forum : Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
Tiêu đề Chủ đề: Văn học Việt Nam hải ngoại từ sau 1975 - Nguyễn Trọng Lưu Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Tác giả
Nội dung << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
Suy Tu
Thành viên mới
Thành viên mới


Ngày gia nhập: 04/01/14
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 37
Tiền: 74$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: Không cho biết
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 06/10/16 lúc 20:48 | IP Logged Trích dẫn Suy Tu

Văn học Việt Nam hải ngoại từ sau 1975

 

Nguyễn Trọng Lưu

 

(Bài thuyết trình tại Tilst Bibliotek, Aarhus ngày 01.10.2016)

 

 

 

Nên gọi là “Văn học Việt Nam hải ngoại”, “ngoài nước” hay “lưu vong”?

 

Hai chữ Hán Việt “hải ngoại” không sát nghĩa bằng hai chữ thuần Việt “ngoài nước” - vì “hải ngoại” chỉ có nghĩa là “ngoài biển” - trong khi “ngoài nước” có nghĩa là ngoài nước Việt Nam. Theo thiển ý của chúng tôi, từ “nước” ở đây không phải là “hải - thủy”, mà là “quốc”. Vậy muốn diễn tả đúng ý ngoài nước Việt Nam thì tiếng Hán Việt phải dùng là “quốc ngoại” chứ không phải là “hải ngoại”. Nhưng âm vang của từ “ngoài nước” làm ta cảm thấy gần gũivới đất nước và người Việt hơn là khi dùng từ “quốc ngoại”.

 

Hơn nữa, từ “nước” trong danh từ đất nước, bao hàm ý nghĩa “nước”“thủy” - như nước sông, nước biển, mà chữ “quốc” của tiếng Trung Hoa không có. Và có lẽ ít ngôn ngữ nào trên thế giới diễn tả được hình ảnh “đất nước” với hai yếu tố căn bản tác thành nên như tiếng Việt - “đất”“nước”. Nếu không có đất và không có nước thì sẽ không có sự sống, không có tạo vật cũng không có người. Hai yếu tố căn bản này, “đất-nước” gắn bó với hồn dân tộc, đã được Bình Nguyên Lộctrải bày trong toàn bộ tác phẩm của ông. Ngoài ra “nước biển” còn có liên hệ sinh tửvới người vượt biển - thành phần chủ chốt của văn học Việt Nam hải ngoại.Vậy từ “nước” trong từ“hải -biển” cũng là thành tố của “đất nước”.Và “hải ngoại” chỉ là một cách nói khác, để chỉ những gì ngoài đất nước. Do đó “hải ngoại”“ngoài nước”là những cụm từ mang ý nghĩa tương đương.

 

Còn từ “lưu vong” vừa nói lên một tình trạng(người bị xa nước)lạivừa phơi bày một tâm trạng (nhớ nước).Nhưng cũng có người không xa nước nhưng vẫn nhớ nước như trường hợp Bà Huyện Thanh Quan.“Tâm trạng nhớ nước” đã làm nẩy ra những hành động hướng về đất nước - dưới nhiều hình dạng khác nhau - trong đó có sinh hoạt văn chương: viết bằng tiếng Việt. Như vậy, “lưu vong” là động cơ thúc đẩy con người hướng về nước, nhưng trong văn học tính chất lưu vong chỉ là một sắc thái của mỗi tác giả:

 

- “Lưu vong” -theo nghĩa đối kháng chính quyền xuất hiện trong những hồi ký chính trị, cải tạo. Chúng tôi không bàn đến những tác phẩm ca tụng chính quyền vì đó không phải là văn học đích thực trong chiều hướng phục vụ tự do và sự thật.

 

-“Lưu vong” - theo nghĩa nhớ nước, rất sâu sắc trong thơ Phạm Tăng, Cao Tần, Thanh Nam,  trong văn Võ Đình vào những thời kỳ đầu, nhưng càng về sau càng dịu đi, nhường chỗ cho tính chất hội nhập và hòa hợp.

 

Truyền thống văn học lưu vong thực sự đã khởi sinh từ những năm đầu thế kỷ 20, khi Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, từ hải ngoại gửi những tâm văn, huyết thư về nước. Tiếp nối truyền thống ái quốc lưu vong là dòng nghệ thuật thuần túy trong thập niên 1930, khi các họa sĩ đầu tiên của Việt Nam như Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Lê Thị Lựu xuất ngoại và định cư tại Pháp và sau đó là những tên tuổi như Lê Bá Đảng, Võ Đình, Phạm Tăng cùng thời với những nhà biên khảo như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp, Trương Đình Hòe.

 

Tất cả những lớp người đi trước này là tiền thân của văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại hôm nay. Cho nên khi gói trọn văn học Việt Nam hải ngoại trong phạm vi những tác phẩm của người Việt di tản, chúng ta dễ bị rơi vào những lắt léo. Chẳng hạn có nên sắp xếp cho Phạm Thị Hoài(sanh 1960 tại Hải Dương)vào văn học Việt Nam hải ngoại hay không?

 

Năm 1988, quyển tiểu thuyết đầu tay của bà được xuất bản tại Hà Nội với tựa đề ”Thiên sứ” rồi sau đó quyển này bị chính quyền Việt Nam cấm lưu hành. Về sau, ”Thiên sứ” được dịch sang tiếng Anh (The Heavenly Messenger), Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức (Die Kristallbotin) và Phần Lan. Năm 1993, bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải "Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất" của tổ chức Frankfurter Literaturpreis trao tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức. Riêng bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000. Cũng trong năm này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làm việc hiện nay. Ở Berlin, 2001 bà sáng lập tạp chí Talawas trên Internet có tầm ảnh hưởng lớn.

 

Phạm Thị Hoàilà nhà văn Việt Nam, với những tác phẩm viết và in trong nước và những tác phẩm viết và in ngoài nước, cũng như Võ Phiến, Mai Thảo, Nhật Tiến. Khi muốn phân chia theo địa lý văn học thì phần viết và in ở nước ngoài của họ thuộc về văn học hải ngoại.

 

Pablo Picasso(1881-1973)- dù xây dựng toàn bộ sự nghiệp hội họa ở Paris, nhưng đối với quốc tế, ông vẫn là họa sĩ Tây Ban Nha. Thế mà Vladimir Nabokov(1899-1977) đi lưu vong, mang theo linh hồn và văn hóa Nga trên đất Mỹ, Pháp, rồi Thụy Sĩ, nhưng ông không được ghi nhận như nhà văn Nga mà là nhà văn Mỹ, gốc Nga, bởi vì tác phẩm của ông, phần lớn viết bằng tiếng Mỹ.

 

Do vậy nguồn gốc và ngôn ngữ là hai yếu tố xác định "quốc tịch của nghệ thuật”- dù biết rằng nghệ thuật không có và không cần quốc tịch. Riêng đối với văn chương, thì ngôn ngữ là yếu tố xác định, còn những thành tố địa lý, chính trị - chỉ là những yếu tố có thể có ảnh hưởng đến bản chất nghệ thuật và tư tưởng của tác giả.

 

 

Văn học Việt Nam hải ngoại được hình thành ở thời điểm nào?

 

Báo chílà khởi điểm cho việc viết và đọc cho đời sống tinh thần.Ngay từ khi còn ở đảo Guam hoặc mới bước chân lên những trại tỵ nạn đầu tiên trên đất Mỹ, người Việt đã có báo.Minh Đức Hoài Trinh, trên báo Hồn Việt Nam, số 1, phát hành tại Paris ngày 15.10.1975, nhắc đến chuyện đã "đọc báo Chân Trời Mới ở các trại như Pendleton, Guam, Asan vào giai đoạn đầu của cuộc ly hành mùaxuân Ất Mão", và bà còn cho biết "theo báo Đất Mới: một nhóm các người làm báo ở Hoa Thịnh Đốn đang thành lập một ủy ban để giúp các người làm báo Việt Nam tìm người bảo trợ và công việc làm ăn tại Hoa Kỳ."

 

Võ Phiến, trong bài “Xuất Trại” nhắc nhở đến tờ "Đất Lành cuối tháng 8.75, liên tiếp mấy số liền, có những bài đăng ở trang nhất, cố gắng giải thích, khuyên nhủ, dỗ dành, mỉa mai, rồi... hăm dọa, nhằm thúc đẩy dân tỵ nạn mạnh dạn ra đi lập lại cuộc đời mới."

 

Từ“Chân Trời Mới”, “Đất Lành” ... người Việt đã thành lập những tờ báo có tính chất văn học nghệ thuật. Nhìn lại giai đoạn tiên khởi này, những tờ báo có khuynh hướng văn học nghệ thuật xuất hiện sớm nhất ở hải ngoại có thể là:

 

- “Nguyệt san Hồn Việt Nam” của Minh Đức Hoài Trinh, số 1 ra ngày 15.10.1975 ở Paris, số chót Xuân Mậu Ngọ 1978.

 

- Báo “Quê Mẹ” của Võ Văn Ái ở Paris, số 1 đầu năm 76, chuyên về văn học nghệ thuật. Sau đó chuyển sang tạp chí Quê Mẹ, chuyên về thời sự, chính trị, đấu tranh, có thêm trang vănhọc.

 

- Báo “Quê Hương”của Du Tử Lê, Đinh Thạch Bích, Võ Văn Hà, Phạm Cao Dương ở Costa Mesa, đầu năm 76, ra được ba số thì đình bản. Sau đó Du Tử Lê chủ thương tờ “Nhân Chứng”. Nhân Chứng tồn tại được hai năm, ra khoảng 20 số.

 

- Báo “Đất Mới” với Huy Quang Vũ Đức Vinh, Nguyễn Văn Giang là một trong những tờ báo đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ từ tháng 7.75. Đến tháng 4.76, Thanh Nam được mời cộng tác. Đến năm 81 có thêm Mai Thảo.

 

- Báo “Hồn Việt” của Nguyễn Hoàng Đoan ở San Diego, ra đời đầu năm 76 mà số Xuân Đinh Tỵ (1977) đã có đầy đủ tư thế của một tờ văn học nghệ thuật với sự đóng góp bài vở của Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, Tạ Ký, Nhất Tuấn, Cung Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng...

 

- Võ Phiến ở Santa Monica và Lê Tất Điều ở San Diego cho xuất bản nguyệt san “Văn Học Nghệ Thuật”  từ tháng 4.1978, ra được 13 số thì đóng cửa vào tháng 9.1979. Tái bản bộ mới số 1, tháng 5.85 đến tháng 12.86 đình bản, trao lại cho Nguyễn Mộng Giác đổi thành Văn Học.

 

- Cùng thời điểm này, Đỗ Ngọc Yến sáng lập tờ “Người Việt” - số báo đầu tiên phát hành tháng 12.78 ở quận Cam, California. Người Việt là tờ thông tin nghị luận, mới đầu là báo hàng tuần, sau trở thành báo hàng ngày, có nhiều độc giả nhất trong cộng đồng người Việt ở Mỹ và là cơ sở nuôi sống nhiều nhà văn, nhà báo.

 

 

Những bước khởi đầu từ năm 1975

 

Biến cố quốc hận 30.04.1975 đã làm cho cả triệu người Việt chúng ta bỏ nước ra đi - vì không chấp nhận chế độ cộng sản bạo tàn.

 

Một số anh chị em đồng hương không may mắn đã bị chết trên biển cả, trong rừng sâu hoặc nơi các trại tị nạn, còn một số lớn đã đi đến bến bờ tự do, và được định cư rải rác khắp năm châu - trong số đó có những khuôn mặt tiêu biểu của văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam trước 1975 - như Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Thanh Nam, Túy Hồng, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Nguyễn Thị Vinh, Phan Lạc Phúc, Du Tử Lê, Viên Linh, Kiệt Tấn, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Duy(nhạc sĩ), Võ Đình(nhà văn và họa sĩ), Tạ Tỵ(họa sĩ), Đinh Cường(họa sĩ), Khánh Ly(ca sĩ).

 

Mặc dầu có sự bắt đầu của sinh hoạt văn học, nhưng không mấy ai tin tưởng vào sự thành công của sự nghiệp này, như Võ Phiếnđã từng tâm sự trong phần mở đầu cuốn “Thư gửi bạn”(1976): “Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa. Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc”.

 

Những người Việt Nam định cư tại nước ngoài - ngoài gánh nặng tình cảm gắn liền với việc rời khỏi quê hương xứ sở, còn phải trải nghiệm một cú sốc mạnh mẽ về văn hoá khi tiếp xúc với một hiện thực mới mẻ, xa lạ và khó hiểu. Những ngày đầu ra khỏi trại tạm cư, tiếng mẹ đẻ của chúng ta chỉcòn dùng được trong gia đình giữa vợ chồng con cái.Xung quanh chúng ta là một khung cảnh khác, luật pháp khác, phong tục khác, ngôn ngữ khác.Tất cả cảnh sống ấy xa lạ không hẳn chỉ vì ngôn ngữ mà còn vì những sinh hoạt hoàn toàn khác lạ. Và do vậy chúng taquay về tâm sự riêng tư của mình thường gọi là “nostalgie”: vui buồn với hình ảnh làng xưa xóm cũ, với lũy tre xanh bên dòng sông nhỏ, cạnh rừng dừa ven biển, với câu hát giọng hò truyền cảm.

 

Xuất hiện của các thuyền nhân, từ khoảng 1979-1982

 

Thời kỳ thứ hai của văn học Việt Nam ở hải ngoại bắt đầu khoảng năm 1979 - trùng hợp với sự xuất hiện của các "thuyền nhân” mà theoVũ Khắc Khoan - “những thuyền nhân tị nạnnày đã

khuấy động văn học và nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại và đã đẩy đưa tới một giai đoạn mới trong sự hình thành và phát triển."

Nếu phần lớn dân tị nạn thuộc đợt thứ nhất gồm những người có mối quan hệ nào đó với Mỹ thì những người ở đợt di tản thứ hai phải tự đi tìm cách dời khỏi Việt Nam.Họ phải chờ đợi khá lâu để nước thứ ba cho phép định cư. Tâm trạng đó đã in sâu và đã được phản ảnh trong sáng tác văn học sau này.

 

Thời kỳphát triển tương đối ổn định, 1982-1990.

 

Số tác giả mới và số lượng sách được xuất bản đã gia tăng, những nhà xuất bản chuyên nghiệp đã ra đời, và đã xuất hiện một đời sống văn học thực thụ, phong phú và đa dạng. Có thể nói rằng thời kỳ này là thời kỳ thuận lợi nhất và có kết quả nhất trong lịch sử văn học Việt Nam ở hải ngoại.

Tác phẩm đáng kể nhất trong thể loại này là bộ tiểu thuyết sử thi năm tập “Mùa biển động”của Nguyễn Mộng Giác.

 

Nguyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định. Dạy học tại Huế, Qui Nhơn và làm chuyên viên nghiên cứu giáo dục tại Sài Gòn trước 75. 1971 bắt đầu viết văn, từ 72 đến 75, đã có 5 tác phẩm: “Nỗi băn khoăn của Kim Dung” (tiểu luận). “Bão rớt” (truyện ngắn) và 3 tập truyện dài: “Tiếng chim vườn cũ”, “Qua cầu gió bay”“Đường một chiều”.Vượt biển năm 1982. Định cư tại Hoa Kỳ. Từ 1985, Nguyễn Mộng Giác thay Võ Phiến chủ trương tạp chí Văn Học Nghệ Thuật, 1986, đổi tên là Văn Học. Tại hải ngoại, ngoài tập trường thiên “Mùa biển động” gồm 5 cuốn: Những đợt sóng ngầm (1984), Bão nổi (1985), Mùa biển động (1986), Bèo giạt (1988) và Tha hương (1989); Nguyễn Mộng Giác còn cho in hai tập truyện ngắn: “Ngựa nản chân bon”, “Xuôi dòng” và bộ trường thiên “Sông Côn mùa lũ” viết ở trong nước từ 1977 đến 1981, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1991. Cuốn sách mới nhất là tập tiểu luận nhận định văn học tựa đề: “Nghĩ về văn học hải ngoại” do Văn Mới xuất bản.

 

 Giữ điạ vị chủ biên tạp chí Văn Học trong gần 20 năm, Nguyễn Mộng Giác đã khám phá, khuyến khích, nâng đỡ rất nhiều cây bút mới, nhiều tài năng trẻ đến chỗ thành danh, ít ai quên được công lao của người anh đầu đàn ấy.

 

Ông là một trong những cột trụ đã xây dựng nên nền văn học Việt Nam hải ngoại.Truyền thống của tiểu thuyết trong văn học Việt Nam còn khá non trẻ. Để viết được những tác phẩm có quy mô như vậy cần phải có kinh nghiệm sống phong phú và tài năng, do đó, nhiều nhà văn lưu vong có thể bộc lộ mình rõ nét nhất trong các tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ. Cũng cần phải nhắc đến những cuốn ”Người đi trên mây” của Nguyễn Xuân Hoàng, ”Giấc mộng” của Nguyên SaThích Nhất Hạnh, Nghiêm Xuân Hồng - những người viết về các vấn đề tôn giáo và triết học.

 

Truyện ngắn đã trở thành thể loại dẫn đầu trong văn học Việt Nam ở hải ngoại.Hầu như tất cả các nhà văn mới đều là những cây bút truyện ngắn như Thế Giang, Trần Vũ, Vũ Quỳnh Hương.

 

Nhịp đi chậm, từ 1990-1995

 

Nhiều người đã nhận định rằng nguyên do nhịp đi chậm của văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt ở hải ngoại là do những biến đổi chính trị đã diễn ra ở Việt Nam và trên thế giới nói chung, như sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Mỹ vào năm 1995.

 

 

Những khuynh hướng chủ yếu của văn học Việt Nam ở hải ngoại từ 1995

 

Hoài niệm và hội nhập

 

Nếu phải lược tóm tình hình văn học Việt Nam ở hải ngoại, thiết nghĩ phải căn cứ vào quan điểm tư tưởng nghệ thuật và sáng tác được định hướng vào quá khứ hay vào hiện tại. Đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng đầu là hoài niệm, còn đối với các nhà văn thuộc khuynh hướng thứ hai là hội nhập.

 

Trong những năm đầu tiên định cư trên đất Mỹ (1975-1979), hoài niệm đã trở thành chủ đề chính trong nhiều tác phẩm của các tác giả Việt Nam mà nét nổi bật là nỗi đau ly tán với quê hương xứ sở, sự cô đơn và sự vô vọng đối với tương lai. Những tình cảm ấy được thể hiện rất rõ trong thơmà nổi tiếng vớiCao TânThanh Nam.

 

Những tình cảm tương tự của những người tị nạn xa xứ cũng được ghi lại trong văn xuôi - đặc biệt trong truyện ngắn và tùy bút - của Võ Phiến, Túy Hồng, Trùng Dương, Thanh Nam.Dần dần, nét lạc quan đã trở lại với văn học hải ngoại và niềm tin đã đổi mới: cuộc sống nơi đất khách quê người bắt đầu có ý nghĩa, và tất cả đã được ghi lại trong văn học.

 

Những thay đổi ấy thể hiện rõ nét nhất trong truyện ngắn của Hồ Trường An. Trong những truyện ngắn của mình, tác giả mong muốn truyền đạt nhịp độ và tâm trạng của cuộc sống mới, ở đó nỗi buồn và tiếng cười xen kẽ bên nhau, sự chiêm nghiệm trầm tư và sự hào hứng lao động, vì hạnh phúc và sự phồn vinh tương lai của mình. Nhờ những tác phẩm ấy, thái độ đối với quá khứ được ý thức một cách hợp lý hơn, còn thái đội đối với hiện tại và tương lai thì trở nên điềm tĩnh hơn.

 

 

Hiện thực dân tộc, hồi ký và tư liệu lịch sử

 

Ngay từ đợt di tản thứ nhất, trong văn học Việt Nam ở hải ngoại đã hình thành khá rõ ba khuynh hướng: văn chương phong tục, hồi ký và tư liệu lịch sử

 

Khuynh hướng đầu tiên gồm đại đa số tác giả là người miền Nam Việt Nam. Cốt truyện trong sáng tác của họ - mà chủ yếu là thể loại truyện ngắn - gắn liền với cuộc sống hàng ngày của tầng lớp dân nghèo và trung lưu trong những năm dưới chế độ thuộc địa của Pháp (Hồ Trường An, Xuân Vũ, Ngô Nguyên Dũng, Huyền Châu, Nguyễn Văn Ba), trong thời kỳ tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng Hoà trước ngày 30.04.1975 (Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hùng) cũng như trong những điều kiện của chế độ xã hội chủ nghĩa mới sau khi nước Việt Nam thống nhất (Nguyễn Đức Lạp, Võ Kỳ Điện, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Ngạn).

 

Khuynh hướng hồi kývà tư liệu lịch sử trong văn học Việt Nam ở hải ngoại được hình thành khi cuộc sống của họ dần dần ổn định về mặt kinh tế. Những cuốn sách này đã ghi lại quá khứ mới đây của nhiều nhân vật cao cấp trong chính quyền Sài Gòn cũ - các tướng lãnh (Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Chánh Thi, Huỳnh Văn Cao, Trần Ngọc Nhuận v.v...) các chính khách (Bùi Diễm, Nguyễn Tiến Hưng, Trần Huỳnh Châu) và các văn nghệ sĩ (Phạm Duy, Duyên Anh, Nhã Ca). Tất cả những cuốn sách ấy chứa đựng nhiều tư liệu phong phú về các sự kiện hữu ích cho các nhà nghiên cứu về lịch sử, xã hội học, văn học.

 

 

Những chiều kích năng động mới của văn học Việt Nam hải ngoại

 

Ngoài các tác giả viết về những vấn đề của quá khứ, khuynh hướng hội nhập trong văn học Việt Nam ở hải ngoại dần dần chiếm những vị trí đáng kể trong những quá trình xã hội.Thế hệ đầu tiên của những người di tản vốn được định hướng vào những giá trị văn hoá truyền thống của Việt Nam và trước hết vào tiếng Việt, ngày một già đi, trong khi đó các thế hệ tiếp theo (thế hệ thứ hai và nhất là thế hệ thứ ba) ngày càng được Âu, Mỹ hoá và hầu như không gắn bó tương lai của mình với Việt Nam.

 

Nếu chú ý tới sự thống kê thì đa số tác tác phẩm viết về kinh nghiệm hội nhập của người Việt Nam vào cuộc sống Mỹ là do phụ nữ viết. Đó là Trần Diệu Hằng (Trần Diệu Hằng sinh tại Hà Nội, di cư vào miền nam năm 1954. Cựu nữ sinh Trưng Vương. Di tản và định cư tại Hoa Kỳ từ 1975.Tốt nghiệp MIS tại đại học Fullerton, chuyên viên thảo chương điện toán của Chevron Petrolium Technology Corp., là tác giả của ba tác phẩm “Vũ Điệu của Loài Công”, “Chôm Chôm Yêu Dấu” và “Mưa Đất Lạ” - xuất bản tại California, Hoa Kỳ. Hiện sinh sống tại California. ), Nguyễn Thị Ngọc Nhung(Tiếng gào trong đêm). Nhưng cũng có một số nhà văn nam giới viết về vấn đề này như Võ Phiến("Thư gửi bạn"), Nguyễn Bá Trạc("Ngọn cỏ bồng"), Võ Đình("Xứ sấm sét").

 

Các tác giả thường viết về những vấn đề thông thường xảy ra đối với bất cứ một cộng đồng di tản nào, nhất là ở những giai đoạn hình thành đầu tiên. Đó là sự tan vỡ của cuộc sống yên ổn trước đây, những khó khăn của thế hệ những người di tản đầu tiên do sự khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ nên không thể hoà nhập nhanh chóng vào xã hội mới, sự cô đơn của người già, sự suy thoái hoá về đạo đức, hiện tượng lớp trẻ rút khỏi cộng đồng người Việt, sự tan nát của gia đình, sự phân hoá xã hội sâu sắc trong nội bộ cộng đồng di tản.

 

Mặc dầu trong đa số tác phẩm, sự thích nghi và hội nhập của người Việt được miêu tả với sắc thái bi quan - thông qua những dằn vặt lớn lao về đạo đức và những khó khăn vật chất, tuy thế vẫn có những trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn,Hồ Trường An(tên thật Nguyễn Viết Quang, 1938 Vĩnh Long. Ông tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu tỉnh Bình Dương từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 cho tới tháng 4/75.Hiện cư ngụ tại Troyes, Pháp.Ông viết truyện ngắn, thơ, điểm sách, viết tạp ghi. Và sau này ông viết các bài nhận định về kịch ảnh, tân nhạc)trong "Hoà hợp" đã lạc quan tiếp nhận cuộc sống mới mà ông ta và những người đồng hương của mình đành phải bắt đầu ở Mỹ. Trong truyện ngắn "Gió đêm",Trần Thị Kim Lan viết về sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người thuộc các dân tộc khác nhau, cònMai Kim Ngọc lại đánh giá một cách tích cực đối cuộc sống của người Việt trong những điều kiện văn hoá xã hội mới.

 

Đa số những người di tản thuộc thế hệ đầu tiên không thể hoà nhập vào văn hoá của nước bản địa.Trong khi đó thì thế hệ thứ hai hoặc thế hệ thứ ba- những người rời khỏi Việt Nam từ hồi còn nhỏ hoặc đã sinh ra trên đất Âu, Mỹ, dễ dàng hoà nhập vào xã hội, và nền văn hoá mới.Và do vậy đã xuất hiện những tác giả trẻ chỉ viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Những cuốn sách của họ tái hiện lại các cốt truyện Việt Nam có lẽ với chủ ý dành cho độc giả nước ngoài.

 

Kinh nghiệm hội nhập vào cuộc sống trở thành đề tài chủ yếu trong các tác phẩm (phần lớn là truyện ngắn) của các nhà văn thuộc thế hệ thứ hai viết bằng tiếng Việt và bây giờ đã từ 50 tuổi đến 60 tuổi trở lên. Mỹ đó là Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam, Ngọc Khôi, Hoàng Mai Đạt, Dương Như Nguyện, Bùi Diễm Âu, Võ Đình, Nguyễn Hương, Nguyễn Danh Bằng; ở Pháp đó là Thụy Khê, Trần Vũ; ở CanadaNam Giao; ở Úc đó là Hoàng Ngọc TuấnNguyễn Hưng Quốc; ở Đức đó là Lê Minh Hà. Tác phẩm của họ không nói đến cuộc sống trước đây ở quê nhà, bởi lẽ họ đã ra đi từ hồi còn nhỏ và do vậy không cảm nhận được tình quê như đối với thế hệ cha anh. Bởi vậy họ viết về cuộc sống hiện tại của mình, xuất phát từ thực tại của thế giới hiện đại bao quanh họ.Họ rất tự tin, thoải mái trong việc thể hiện tình cảm và bộc lộ những nhận định.Sáng tác văn học không phải là cái chủ yếu trong hoạt động thực tiễn của họ, họ không đóng vai trò chủ chốt trong đời sống văn học của cộng đồng người di tản, tất cả những nỗ lực của họ đều hướng tới sự thành đạt trong xã hội mới. Khác với các nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên, đối với nhiều người trong số họ, văn học chủ yếu là sự tiêu khiển, sự giải trí về mặt tinh thần mà không phải là nhu cầu bức thiết của cuộc sống.

 

Không phải tất cả các nhà văn này đều viết bằng tiếng Việt. Một số không nhỏ đã dùng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác để hoà nhập vào dòng chảy chung của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thế giới nói chung. Nói một cách hình tượng, họ đang tìm sự cân bằng giữa hai thế hệ - thế hệ thứ nhất, lớn tuổi hơn và thế hệ tiếp theo sau họ, trẻ hơn, vốn hoàn toàn hướng tới sự hội nhập vào môi trường mới và ngôn ngữ mới. Cùng với thế hệ đầu tiên, họ sẻ chia lòng yêu mến tiếng Việt, nhưng không xẻ chia gánh nặng tình cảm đối với quá khứ. Cùng với thế hệ thanh niên, họ tiếp nhận một cách thực tế và thực dụng cuộc sống mà hiện nay họ phụ thuộc, nhưng tuy thế trong văn học họ bị ngăn cách bởi rào cản ngôn ngữ- bởi tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Đức.

 

Hiện ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam đã hình thành cả một đội ngũ nhà văn đồng thời thuộc về hai nền văn hoá - văn hoá Việt Nam và văn hoá của nước mà nhà văn định cư. Ở Mỹ, một tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Mỹ- là Andrew Lam(sanh năm 1964) một nhà bình luận chính trị luận sáng giá và một cây bút chuyên viết truyện bằng tiếng Anh("Letter to a young refugee from another", (1999"), Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora", (Heyday Books, 2005), "East Eats West: Writing in Two Hemispheres," (Heyday Books, 2010), "Birds of Paradise Lost," (Red Hen Press, 2013). Ngoài ra cần kể đếnMonich Trương, Aimee Phan, Lan Cao, Kiên Nguyễn, Lê Thị Diễm ThúyDao Strom. Những tác giả thuộc khuynh hướng này đã thu hút được sự chú ý của những nhà xuất bản sách và giới phê bình và đã nhận được các giải thưởng quốc tế.

 

 

Khả năng và hạn chế.

 

Phải công nhận người cầm bút hiện nay ở hải ngoại có quá nhiều chất liệu để sáng tác. Chưa có giai đoạn nào trong lịch sử Việt Nam hiện đại có nhiều biến động như giai đoạn này.Hãy thử đọc lại tiểu thuyết thời Tự Lực Văn đoàn.Không khí xã hội và tâm tình thời bấy giờ, tuy có biến động, nhưng là những biến động nhỏ.Nhà văn, cả nhân vật truyện, chỉ mới phải đối phó với những vấn đề nhỏ.Chuyện mẹ chồng nàng dâu.Chuyện cường hào ác bá.Chuyện cổ tục lỗi thời. Chuyện ho

lao thất tình. Quá lắm cũng có những người dám quyết định thoát ly, nhưng quyết định đó cũng êm ả thoải mái quá.Ðó là những vấn đề của thời bình, những đau buồn sướng vui của thời bình.

 

Ngược lại, cuộc đời những người cầm bút hiện nay tại hải ngoại dữ dội, sóng gió biết bao.Không cần tưởng tượng thêm thắt, nhiều người chỉ cần kể lại cuộc đời họ đã đủ thành một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm.Súng đạn, chết chóc, tù tội, vượt ngục, vượt biển, đột ngột sống ởmột nơi chốn lạ hoắc, bấy nhiêu điều không phải là hiếm hoi trong cuộc đời nhiều người. Chất liệu sáng tạo văn học dồi dào sống động, vượt xa khả năng tưởng tượng hư cấu.Ðó là một động lực quan trọng.

 

Không có báo chí và nhà xuất bản thì không có một nền văn học hải ngoại thành hình. Trong lúc đó, báo chí và xuất bản rán tồn tại cho đến nay, trên thực tế, chỉ do những đam mê và cố gắng của các cá nhân lẻ tẻ. Cộng đồng Việt Nam chúng ta không và chưa có truyền thống và tổ chức yểm trợ văn hóa như các cộng đồng Do Thái hay Trung Hoa. 




Lên trên Xem Suy Tu's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của Suy Tu
 

Nếu bạn muốn trả lời thì trước tiên bạn phải đăng nhập
Nếu chưa đăng ký thì bạn hãy đăng ký

  Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Mục lục
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn




Nội dung và quan điểm của những bài viết trên trang web này thuộc về tác giả. Vinanet.dk không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như quan điểm của bài viết.
Email: Vinanetadmin@gmail.com
 

  HOT LINKS       

Benzinpriser
Akut-hjælp
Midttrafik
Linkworld.dk
Valuta   Tỷ giá
Bilbasen
Århus.dk
Home.dk
Borger.dk
Boligportal.dk
Guide.dk
Den Blå Avis
TV-Guide
GulOgGratis
Bibliotek
TestDinHastighed
Postdanmark
DenDanskeBank
Finfo
Team viewer
DivShare
CountryCodes
TV other languages
Dailigmotion
Time-Weather
Ebay
Youtube
Imageshack
eTilbudsavis
Veoh.com
4shared
Scribd
Keepvid
Archive.org
Authorstream
Esnips
Unikey 4.0
PhôngChữ
MediaFire
Video4Viet
TV CôngGiáo
Hyperfileshare
VieTVusa
LittleSaigonTV
VietPho TV
3D album
TV PhậtGiáo
Rapidshare
NCT     mp3.zing
Tixpod