Hiển thị danh sách thành viênThành viên  Thư kýThư ký  Sự kiệnSự kiện  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
 Vinanet forum : Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
Tiêu đề Chủ đề: Đường vào triết học (phần 1) - Nguyễn Trọng Lưu Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Tác giả
Nội dung << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
Suy Tu
Thành viên mới
Thành viên mới


Ngày gia nhập: 04/01/14
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 33
Tiền: 66$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: Không cho biết
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 26/05/17 lúc 07:58 | IP Logged Trích dẫn Suy Tu

Đường vào triết học (phần 1)

 

Nguyễn Trọng Lưu

 

(Bài thuyết trình tại Tilst Bibliotek, Aarhus 01. 04. 2017)

 

 

Triết lý là gì?

 

Có người nhận định rằng triết lý trình bày những bí mật siêu hình nhưng là một lối suy luận vô căn cứ. Cũng có người cho rằng triết lý là một cố gắng đầy ý nghĩa của những thiên tài, nhưng lại là một lối suy luận chủ quan, cố chấp, viển vông. Thế nên nhiều khi triết lý quá khó, không thể học hỏi hay sưu tầm được.

 

Vả lại, triết lý không đem lại một kết quả hiển nhiên, hay kiến thức chính xác nào. Khoa học ngành nào cũng nắm được những kiến thức chắc chắn mọi người đều chân nhận. Trái lại triết lý qua bao nhiêu nỗ lực kể đã hàng ngàn năm vẫn chẳng thành tựu gì. Không một ai là không thấy rằng: trong lãnh vực triết lý không bao giờ có sự hoàn toàn đồng ý để có thể thiết lập một số kiến thức chính xác khách quan.

 

Và còn khác với khoa học, triết lý hình như lại không tiến bộ gì cả. Dĩ nhiên chúng ta biết nhiều hơn Hippocrate - nhưng chúng ta không thể tự hào đã vượt xa hơn Platon. Có chăng chúng ta chỉ hơn họ về những kiến thức khoa học, còn những gì thuộc phạm vi sưu tầm triết lý đúng nghĩa, có lẽ chúng ta vẫn còn lẽo đẽo theo sau!

 

Khoa học thì được mọi người công nhận. Trái lại triết lý bất cứ dưới hình thức nào đều không thể được mọi người hoàn toàn đồng ý. Bởi bản tính của triết lý là như thế. Những gì tìm tòi và chinh phục được ở địa hạt triết lý đều không có tính cách đích xác như khoa học thực nghiệm và được mọi người hoàn toàn đồng ý. Những kiến thức khoa học chỉ hạn định trong những đối tượng đặc thù mà không liên hệ đến toàn diện hữu thể là những gì liên hệ đến con người vì là con người.

 

Chính vì thế mà Karl Jaspers, (1883-1969), môt triết gia người Đức mới viết: ”Triết lý là một cuộc hành trình, nên với triết lý, tra vấn thắc mắc thường quan trọng hơn giải đáp. Hơn nữa mỗi giải đáp còn làm phát sinh ra nhiều thắc mắc mới.”

 

Mà hành trình là số kiếp con người trong đời thường. Nhưng cũng chính cuộc hành trình ấy lại đem cho con người niềm ủi an qua đó con người còn được toại nguyện. Nhưng toại nguyện ở đây không phải như khi thu lượm được một kiến thức đích xác hay như khi chấp nhận một tín lý hoặc

khi tuyên xưng niềm tin. Trái lại ở đây toại nguyện là khi trong trần thế này con người thấy thực hiện được ý nghĩa của một con người đã nhận được ánh sáng của Hữu Thể soi cho. Bắt gặp

được ánh sáng Hữu Thể ấy trong một cảnh ngộ đặc biệt nào đó trong cuộc sống, đó chính là ý hướng của mọi cố gắng triết lý. Chỉ nhờ kinh nghiệm bản thân, mỗi con người mới nhận thức được đâu là bản chất triết lý ở đời.

 

Vì thế con đường của triết học là truy tầm chân lý và hạnh phúc trong đời.

 

Triết lý là chính cuộc sống, là những suy tư về cuộc đời, để sống cho khôn ngoan, sáng suốt và hạnh phúc. Triết lý là một nỗ lực không ngừng của con người đi tìm chân lý và hạnh phúc trong đời.

 

Nhưng cuộc đời là một thực tại sống động, muôn mặt, thay đổi một cách hết sức linh động nơi mỗi người. Hoàn cảnh sống, tính tình, cấu tạo tâm lý, thể lý của mỗi người rất khác biệt nhau, nên không có cuộc đời nào giống cuộc đời nào cả. Vì thế, mỗi người nhìn cuộc đời một cách khác nhau, có lập trường sống khác nhau.

 

Mà cuộc đời cũng không phải là một ý niệm, một thực tại khách quan ở ngoài mình, nhưng cuộc đời luôn luôn ở trong ta và chính là ta.  Và ta chỉ có thể là ta trong hiện tại. Cái ta của quá khứ hoàn toàn vuột khỏi tầm tay của ta, còn cái ta của tương lai, ta cũng không làm chủ được, và ta không thể biết cái ta tương lai sẽ ra sao.  Ta chỉ làm chủ được ta trong giây phút hiện tại mà thôi.

 

Chỉ có sống giây phút hiện tại thật tràn đầy mới giúp ta hạnh phúc và giải thoát ta khỏi những ràng buộc của quá khứ và tương lai.  Nhưng giây phút hiện tại không phải là cái gì có thể cầm nắm hay giữ lại được. Ta vừa mới ý thức về nó thì nó đã trở thành quá khứ, nhường chỗ cho một giây phút khác trở thành hiện tại. Bí quyết sống hạnh phúc, chìa khóa của giải thoát chính là sống hiện tại cho thật tràn đầy, cho thật ý nghĩa.

 

Hạnh phúc lại mang tính chủ quan hơn khách quan và tùy thuộc vào tâm trạng của ta hơn vào hoàn cảnh bên ngoài.  Thật vậy, hai người cùng sống trong một hoàn cảnh y như nhau, nhưng một người cảm thấy hạnh phúc, một người cảm thấy đau khổ.  Người cảm thấy hạnh phúc là do người ấy bằng lòng với cảnh mình đang sống, cho rằng cảnh mình đang sống là hạnh phúc.  Kẻ cảm thấy đau khổ là do người ấy không bằng lòng với cảnh mình đang sống, cho rằng cảnh mình đang sống là đau khổ. Điều ấy khác gì hai tù nhân kia cùng nhìn qua song cửa sổ, một người nhìn thấy trăng sao đẹp tuyệt vời trên bầu trời bao la, còn người kia chỉ nhìn thấy trước mắt một vũng bùn dơ bẩn hôi hám.  Thấy trăng sao hay thấy vũng bùn đâu tùy thuộc vào ngoại cảnh, mà tùy thuộc vào người nhìn: có nhìn lên trời thì mới thấy trăng sao, còn nhìn xuống đất làm sao khỏi thấy vũng bùn?

 

Vì thế thái độ chân chính của người truy tầm triết lý là sống và tôn trọng mỗi người mà không đòi buộc mọi người theo mình.

Nguyên ngữ của từ ”triết học”

 

Triết học ra đời ở cả Đông Phương lẫn Tây Phương gần như vào cùng một thời gian - khoảng từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 6 trước công nguyên - tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Hoa, Ấn Độ và Hy Lạp.

 

Từ “triết học - φιλοσοφία” của Hy Lạp gồm hai phần “φιλο - lòng yêu mến”“σοφία - sự khôn ngoan” - và như vậy ”philosophia” vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

 

Còn thuật ngữ ”Dar'sana - triết học” của Ấn Độ có nghĩa là chiêm ngưỡng, là thứ tri thức dựa trên lý trí, là con đường tư duy để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

 

Như vậy bản chất của triết học là truy tầm chân lý, chứ không phải chiếm đoạt chân lý. Triết học là môn học tìm biết giá trị của sự vật: khi phán đoán một sự việc về phương diện ”triết”, chúng ta tìm xem sự việc đó đáng giá thế nào. Trong triết học, chỉ có “những phán đoán về giá trị - jugement de valeur”. Nhưng nói đến giá trị là phải nói đến những bảng so sánh - mà bảng so sánh của triết học tóm tắt trong ba chữ chân, thiện, mỹ. Và các triết gia xưa nay chỉ là những người đi tìm giá trị của sự vật về phương diện thật hay dối, thiện hay ác, xấu hay đẹp.

 

Triết học bao gồm ba bộ môn: luận lý học (logique), dạy cách suy luận cho đúng và hợp lý; luân lý học (morale) dạy người ta cách ăn ở cho thiện và mỹ học (esthétique), dạy cách sáng tạo cho đẹp đẽ.

 

Còn “lý” là những gì có thực ở ngoài lòng người.

 

“Lý” là nguyên do: khi phán đoán một sự việc gì về phương diện lý, ta tìm xem trong thực tại, sự việc ấy thế nào, tức ta muốn biết vật ấy là gì. Trong lý có “những phán đoán về thực tại - jugement de réalité”. Chẳng hạn khi đặt câu hỏi: “Trời đất là gì? Sống chết là gì?”

 

“Lý” là khoa học tìm biết sự vật - tức tìm biết căn nguyên của sự vật.

 

Lý học có hai phần, một là vật lý học (physique) - để tìm biết những gì ở giác quan ta thâu nhận được, những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, tay sờ mó - hai là siêu vật lý học (métaphysique), để tìm biết những gì ngoài phạm vi các giác quan của chúng ta. Nhưng người ta không dùng tiếng siêu vật lý học - mà dịch “métaphysique là siêu hình học hay hữu thể học”.

 

Tóm lại:

 

  1. Suy tư triết lý đều phải bắt nguồn tự bản ngã và do vậy ai cũng phải đi vào triết lý.

  2. Trong lãnh vực triết lý, ai cũng cảm thấy như mình có đủ khả năng suy tư, ai cũng có tham vọng tự tìm hiểu và được quyền tham gia những cuộc tranh luận - bởi ai cũng cảm thấy mình mang thân phận làm người với số kiếp và kinh nghiệm riêng tư của mình. Đó là một sự đòi hỏi rất chính đáng nghĩa là ai cũng có thể triết lý. Vì những đường lối phức tạp nhất của triết lý như đường lối mà các triết gia chuyên môn đã theo đuổi chỉ có nghĩa khi chúng quy hướng về thân phận con người. Mà thân phận làm người chỉ được thể hiện là tùy ở cách thái mỗi người nắm chắc được sự hữu và nhân cách của mình.

 

  1. Con người lúc nào cũng tư duy nhưng không biết đâu là cùng. Mà rồi cũng không bao giờ có giải đáp thỏa đáng về cái ngã huyền bí.

 

  1. Là người không một ai bỏ qua triết lý được vì thế mới thấy triết lý xuất hiện khắp nơi và tồn           

tại mãi mãi, hoặc dưới một hình thức công cộng hay trong các phương ngôn, tục ngữ cổ truyền trong những triết ngôn thông thường.

 

Vấn đề căn bản của triết học

 

Vấn đề căn bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức.

 

Như chúng ta vừa nói ở trên, các nguồn triết học Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp được hình thành vào khoảng từ thế kỷ thứ 8 đến thứ 6 trước công nguyên - nhưng triết học Hy Lạp được xem là thành tựu rực rỡ của văn minh phương tây, tạo nên cơ sở xuất phát của triết học Châu Âu sau này.

 

Ngày xưa, theo đối tượng, thì người ta định nghĩa triết lý là biết được những vấn đề về thần minh và nhân loại, hay biết được hữu thể theo tính cách là hiện hữu.

 

Theo mục đích, thì triết lý được coi là học để biết chết hay triết lý là biết dùng tư tưởng để tìm hạnh phúc.

 

Sau cùng theo nội dung, người ta định nghĩa triết lý là lối biết vượt trên mọi lối biết, là nghệ thuật vượt trên mọi nghệ thuật, hay đúng hơn, là môn học không bị hạn hẹp vào một địa hạt riêng biệt nào cả.

 

Triết lý là đường dẫn con người về trọng tâm, nơi đây họ mới nhận thức được chính họ trong khi dấn thân vào đời, mà nổi bật và quan trọng hơn cả từ triết học Hy Lạp là triết gia Socrates (469 - 399 trước công nguyên).

 

 

Triết gia Socrates

 

Socrates xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen. Cha làm nghề điêu khắc, mẹ là nữ hộ sinh. Ông hướng về chính thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ. Năm 399, ông bị chủ nô dân chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật pháp, chống lại chế độ bầu cử dân chủ”.

 

Triết học của ông khác với các nhà triết học trước đó. Các nhà triết học trước nghiên cứu về thế giới tự nhiên. Nhưng ông lại dành việc nghiên cứu về con người, về đạo đức, về nhân sinh quan. Triết học không gì khác hơn là sự nhận thức của con người về chính mình, “con người, hãy nhận thức chính mình”. Bắt đầu từ ông, đề tài con người trở thành một trong những chủ đề trong tâm của triết học phương Tây. Vì vậy, quan điểm triết học của ông bàn đến vấn đề con người trong đời sống xã hội mà trước hết là hành vi đạo đức.

 

Xuất phát từ “đạo đức học duy lý” Socrates cho rằng, “hiểu biết là cơ sở của điều thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác, và chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở của đạo đức, mới là cơ sở của đức hạnh. Ai tuân theo cái thiện phổ biến thì người đó mới có đạo đức. Và muốn theo cái thiện phổ biến thì phải hiểu được nó, muốn hiểu được nó phải thông qua các cuộc tranh luận, tọa đàm, luận chiến tìm ra chân lý theo cách thức - sau này được gọi là “phương pháp Socrates”. “Trở nên thấp kém hơn bản thân mình không phải là cái gì khác hơn ngoài sự ngu dốt, trở nên cao cả hơn bản thân mình không phải cái gì khác ngoài sự thông thái”.

 

Phương pháp triết học của ông gồm bốn gian đoạn.

 

Một là “mỉa mai”, tức là nêu ra những câu hỏi mang tính châm biếm, mỉa mai nhằm làm cho đối phương rơi vào mâu thuẫn.

 

Hai là “đỡ đẻ tinh thần”, giúp cho đối phương thấy được con đường để tự mình khám phá chân lý.

 

Ba là “qui nạp”, tức là từ những cái riêng lẻ thành những cái phổ biến, từ những hành vi đạo đức riêng tư tìm ra cái thiện phổ biến của mọi hành vi đạo đức.

 

Và cuối cùng là “định nghĩa”, là chỉ ra hành vi thế nào đạo đức, quan hệ thế nào là đúng mực.

 

Phương pháp này đối với ông chỉ có những người có tri thức như giai cấp quý tộc và các triết gia mới có thể dùng được và đó là những người có đạo đức. Bốn bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri thức chân thật, bản chất giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự, của nó trong đời sống xã hội.

 

Sự đóng góp của ông thay đổi từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân minh đã làm nên một bước chuyển mới trong nền triết học. Socrates là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, ông không để lại cho đời một tác phẩm nào, vì ông chỉ thường xuyên đàm luận mà không viết. Ngày nay chúng ta sở dĩ biết được được về Socrates là qua các học trò của ông.

 

Năm 399 trước công nguyên ông bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống chế độ dân chủ, chủ trương thay tôn giáo đương thời bằng một tôn giáo mới - tức triết học “hãy tự biết mình” - làm làm hư hỏng thanh niên. Ông từ chối việc học trò đóng góp tiền để cứu ông ra ngoài và đã chấp nhận uống độc dược trong tù.

 

 

Quan niệm “Hãy Tự Biết mình ” của Socrates

 

Trong đền thờ thần Apollon ở Delphes đã có câu chăm ngôn: “Ngươi hãy tự biết ngươi!” Socrates đã lấy câu châm ngôn ấy mà triển khai sâu rộng về mọi mặt, mọi hoạt động trong cuộc đời của mình đối với bản thân, cũng như đối với người khác, nhìn và dẫn cho người ta thấy, làm cho người ta thấy chính bản thân của mỗi người. Hướng về cái nhìn chính ta, nhìn về con người của ta. Mỗi người hãy làm như thế. Tại sao thế gian loài người điên đảo? Tại sao lòng người tràn đầy dục vọng? tại sao giả dối, thù hiềm tràn lan? Chỉ vì ta chú trọng đến những sự vật, sự kiện quanh ta, trong môi trường ta sống mà quên mất con người của ta. Người ta quên mà không biết rằng mình đang quên cái ta thật sự là. Quan điểm này có rất nhiều điểm tương quan với quan điểm đạo Phật.

 

Nếu con người nhìn trở về bản thân mình, biết suy nghĩ sâu xa, suy nghĩ độc lập, không bị dục vọng tình cảm yêu ghét tác động sẽ thấy được ánh sáng ngời chiếu bên trong con người mình. Ánh sáng Socrates nói đây là ánh sáng chí thiện, là cái lý trí trong sáng, là tình yêu thương. Ánh sáng bên trong con người là ánh sáng nội tại, tạo hóa sinh ra, ai cũng có ánh sáng nội tại vẫn hằng hữu trong con người, nhưng người ta bị những thứ phù phiếm bên ngoài thu hút, lao tâm khổ trí để chạy theo cái xung quanh.

 

Nếu ngày nào, con người còn bỏ quên ánh sáng nội tại, mà chỉ lo cái bên ngoài, thì người ta chưa đích thực sống với chính mình. Socrates đã nói rằng: “Ánh sáng nội tại trong con người ví như ánh sáng mặt trời, có thể toả khắp nơi. Không một thứ nào bên ngoài con người như tiền tài danh vọng, nhà cao cửa rộng lại tỏa rạng hơn nó”. Chính vì những quan điểm đó mà Socrates đã trọn đời đi lang thang truyền dạy, và cũng chính vì nó mà Socrates sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình.

 

Ánh sáng nội tại chính là luân lý đạo đức và tinh thần sáng suốt. Cho nên Socrates kêu gọi con người trở về sống với nội tại, tức là trở về đạo đức, luân lý. Xã hội thái bình theo Socrates cũng là một xã hội đạo đức do luân lý ngự trị điều hành.

 

 

Tương quan giữa triết lý của Socrates với quan điểm Phật Giáo

 

Hãy Tự Biết Mình

 

Triết lý “hãy tự biết mình” của Socrates cho chúng ta thấy rằng tư tưởng của Socrates đã tương quan rất nhiều với tư tưởng của Phật Giáo, điển hình với những câu: “Trong môi trường ta sống mà quên mất con người của ta. Người ta quên mà không biết rằng mình quên cái ta thật sự” - hay “Ánh sáng nội tại trong con người ví như ánh sáng mặt trời, có thể toả khắp nơi. Không một thứ nào bên ngoài con người như tiền tài danh vọng, nhà cao cửa rộng lại tỏa rạng hơn nó”.

 

Chúng ta cũng thường bắt gặp những ý tưởng này trong những lời dạy của Đức Phật qua các kinh sách. “Mọi việc làm hành động ta cần phải tự chủ, vì tự chủ sẽ giúp ta sáng suốt khi làm bất cứ điều gì, nhìn nhận một cách chính xác không đưa đến việc sai lầm”.  Đức Phật đã khẳng định: “Con người là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp” hay “Hãy tự mình làm hòn đảo nương tựa cho chính mình, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Đức Phật cũng đã bác bỏ tất cả các vấn đề siêu hình không có khả năng đưa đến sự giải thoát khổ đau mà con người phải đối mặt gánh chịu hằng ngày trong cuộc sống.

 

Trở về sống ánh sáng tâm linh nội tại

 

Socrates cho rằng; “Con người trở về sống với ánh sáng tâm linh nội tại của mình thì con người có đạo đức, nhân cách thanh cao, nói những lời đúng đắn”.

 

Triết lý nhà Phật không dừng ở đây mà còn tiến xa hơn nữa. Đức Phật đã dạy: “Muốn diệt được những tâm tán loạn, vọng chấp, thì không gì bằng là ta hãy trở về sống với bản tâm thanh tịnh sẳn có của mình”. Nếu ta trở về với chính mình - thì việc làm và lời nói chúng ta đúng đắn, có một nhân cách thanh cao. Hơn nữa trở về chính mình là một phương pháp giúp chúng ta đoạn trừ vọng chấp, luôn lọc ra tâm ý trong sạch. Nếu chúng ta hằng sống với tánh ấy thì đây là con đường giúp chúng ta đạt được quả vị an lạc giải thoát.

 

Đức Phật cho rằng con người sỡ dĩ ngụp lặn trong vòng sanh tử là bởi vì luôn chạy theo dục lạc thế gian - “tham ái” - cứ lấy khổ mà làm vui, cho tất cả dục lạc điều là sở đắc của chính mình, mà quên đi viên ngọc quý ở trong ta. Do đó Đức Phật đã đưa ra phương pháp trở về chính mình là cho chúng ta thấy rằng con đường an lạc và hạnh phúc chính ngay nơi bản tâm chúng ta không tìm đâu khác mà có được.

 

Nhưng nếu ý tưởng của Socrates chỉ đưa cho con người đến chỗ hạnh phúc và an lạc thư thái trong cuộc đời này, thì giáo lý của Đức Phật còn dẫn con người đi xa hơn, đạt đến sự an lạc cứu cánh trong đời hiện tại và cả tương lai nữa.

(còn tiếp)




Lên trên Xem Suy Tu's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của Suy Tu
 

Nếu bạn muốn trả lời thì trước tiên bạn phải đăng nhập
Nếu chưa đăng ký thì bạn hãy đăng ký

  Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Mục lục
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn




Nội dung và quan điểm của những bài viết trên trang web này thuộc về tác giả. Vinanet.dk không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như quan điểm của bài viết.
Email: Vinanetadmin@gmail.com
 

  HOT LINKS       

Benzinpriser
Akut-hjælp
Midttrafik
Linkworld.dk
Valuta   Tỷ giá
Bilbasen
Århus.dk
Home.dk
Borger.dk
Boligportal.dk
Guide.dk
Den Blå Avis
TV-Guide
GulOgGratis
Bibliotek
TestDinHastighed
Postdanmark
DenDanskeBank
Finfo
Team viewer
DivShare
CountryCodes
TV other languages
Dailigmotion
Time-Weather
Ebay
Youtube
Imageshack
eTilbudsavis
Veoh.com
4shared
Scribd
Keepvid
Archive.org
Authorstream
Esnips
Unikey 4.0
PhôngChữ
MediaFire
Video4Viet
TV CôngGiáo
Hyperfileshare
VieTVusa
LittleSaigonTV
VietPho TV
3D album
TV PhậtGiáo
Rapidshare
NCT     mp3.zing
Tixpod