Hiển thị danh sách thành viênThành viên  Thư kýThư ký  Sự kiệnSự kiện  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
 Vinanet forum : Một Thoáng Suy Tư (bài viết của Ng. Trọng Lưu)
Tiêu đề Chủ đề: Đường vào triết học, phần 2 - Nguyễn trọng Lưu Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Tác giả
Nội dung << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
vninfo
Nhóm thông tin
Nhóm thông tin
Avatar

Ngày gia nhập: 05/11/06
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 481
Tiền: 972$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: Không cho biết
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 01/11/17 lúc 08:49 | IP Logged Trích dẫn vninfo

Đường vào triết học, phần 2

Nguyễn trọng Lưu

(Bài thuyết trình tại Tilst Bibliotek, 28.10.2017)


Đối với chúng tôi - triết học chủ yếu là con đường truy tầm chân lý và hạnh phúc trong đời - bởi đó chúng tôi đã không khởi đi từ những triết thuyết trừu tượng và xa vời của Aristote hay của Platon - mà đã chọn cái nhìn hiện thực của Socrates về chính mình: “Con người, hãy nhận thức chính mình!” Triết lý là chính cuộc sống, là những suy tư về cuộc đời, để sống khôn ngoan và hạnh phúc. Triết lý là một nỗ lực không ngừng của con người đi tìm chân lý và hạnh phúc trong đời.

Nếu triết học là con đường truy tầm chân lý và hạnh phúc trong đời - thì vấn đề con người là tư duy sâu xa nhất của các triết gia: Con người là gì? Sự hiện hữu của con người trong thế giới có ý nghĩa gì không? Sau cái chết, con người sẽ đi về đâu?

Đó là những vấn nạn đã được đăt ra cho con người qua mọi thời đại.  Kết quả của những suy tư mà họ mang lại là một hệ thống tri thức triết học bàn về con người trải dài trong lịch sử triết học giúp nhằm thỏa mãn tra vấn về ”huyền nhiệm con người”.

Tuy nhiên, vấn đề con người vẫn luôn luôn là một đề tài không cạn và lúc nào cũng còn dang dở. Đến cuối thời cận đại, triết gia người Đức Georg W. F. Hegel đã đưa ra một cái nhìn khá thú vị về con người trong tổng hợp triết học của ông. Nhưng sau đó, Søren Aabye Kierkegaard đã bác bỏ quan điểm này của Hegel và đưa ra những quan niệm rất hiện sinh về con người.


Trước hết cần hiểu sơ qua triết học hiện sinh là gì?

Đó là triết học vị con người, lấy con người làm trung tâm - để đối trị với những nguyên lý triết học cổ điển truyền thống, thường chỉ hướng con người tìm hiểu những lý lẽ huyền vi của tạo hóa mà quên đi thân phận của chính mình. Hơn ai hết triết học Sartre nhấn mạnh: hiện sinh là tôi đang sống đây, bất kể người ta nói gì chăng nữa, thì việc tôi hiện hữu “như thế này” là một thực tế - do vậy, điều tôi quan tâm trước hết là tôi đang tồn tại, đang sống theo đúng nghĩa “hiện sinh” chứ không phải là chỉ “hiện hữu” như tảng đá, cái cây hoặc những loài cầm thú.


Søren Aabye Kierkegaard (1813-1855)

Søren Kierkegaard được coi là cha đẻ của triết học hiện sinh và là một nhân vật quan trọng tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của triết học Châu Âu. Nội dung chủ yếu của bước ngoặc mà Kierkegaard thực hiện là lấy tồn tại cá nhân cô độc, phi lý tính, thay thế tồn tại của vật chất khách

quan - lấy đó làm điểm phát xuất của toàn bộ triết học. Ông cũng đã phản ứng lại tư tưởng của các triết gia cổ đại và nhất là Hegel về con người và đã xây dựng một hệ tư tưởng triết học hướng về con người hiện sinh.

• Con người trong tình huống hiện sinh

Kierkegaard quan tâm đến con người trong tình huống hiện sinh. Ông phân biệt giữa hai tình trạng hiện tại của một người, nghĩa là bây giờ họ đang là gì, và họ phải là gì, hay cốt yếu là gì. Ông cho rằng có một chuyển động trong đời sống một người từ tình trạng bản chất sang tình trạng tồn tại. Qua phân tích tâm lý sâu xa, ông làm nổi bật sự lo âu của con người về tính hữu hạn của họ như là nguyên nhân làm họ trở nên xa lạ hay vong thân với hiện hữu có tính bản chất của họ. Con người luôn cảm nhận sự bất an và hữu hạn của nó.

Kierkegaard còn cho rằng con người hiện sinh là diễn viên chứ không phải là khán giả, nghĩa là chính con người ấy luôn đứng trước các khả năng đa dạng hoặc là - hay là và định hướng đi tích cực cho đời sống với tất cả sự chọn lựa của mình.

Khi phân tích con người hiện sinh, Kierkegaard đã hiểu con người theo quan điểm Kitô giáo - theo đó, bản chất của con người bao gồm mối quan hệ với Thiên Chúa, Đấng Tuyệt Đối. Ông tin rằng thân phận của con người hiện sinh là hậu quả của việc họ xa rời Thiên Chúa, và càng xa rời Thiên Chúa thì họ càng lún sâu vào sự vong thân, thất vọng và ngày càng tệ hại hơn.

Tuy vậy, sự vong thân này cũng tạo ra nơi con người một động lực để phục hồi bản ngã bản chất của mình. Quá trình chuyển động của bản ngã là đi từ một bình diện tồn tại này sang một bình diện tồn tại khác bằng hành động của ý chí và và chọn lựa, để có thể đạt được sự tồn tại thực sự của bản ngã.


• Ba giai đoạn trưởng thành của con người hiện sinh

Theo Kierkegaard, con người hiện sinh trưởng thành qua ba giai đoạn: giai đoạn thẩm mỹ, giai đoạn đạo đức và giai đoạn tôn giáo.

Ở giai đoạn thẩm mỹ, một cá nhân có thể tồn tại vì họ quyết định chọn làm con người thẩm mỹ. Thường ở giai đoạn này con người hành động theo cảm xúc của mình và động lực chính là muốn hưởng thụ. Vì thế cá nhân không thể tạo ra bản ngã đích thực của mình, không thể dẫn đến tồn tại đích thực. Họ phải đối diện với sự chọn lựa hoặc là - hay là, hoặc là tiếp tục ở bình diện này với các cám dỗ nguy hiểm hay là đi đến giai đoạn tiếp theo.

Ở giai đoạn đạo đức, con người nhận ra và chấp nhận các quy tắc hạnh kiểm mà lý trí đưa ra. Hơn nữa, con người đạo đức phải chấp nhận những giới hạn và trách nhiệm đạo đức ràng buộc cho đời sống họ. Kierkegaard cho rằng: “Con người đạo đức nhận ra rằng trong thực tế, họ không có khả năng chu toàn luật đạo đức, rằng họ cố tình vi phạm luật đó, và vì thế họ trở nên ý thức về tội lỗi của họ. Chính mặc cảm tội lỗi lại đặt con người trước chọn lựa hoặc là - hay là. Họ có thể ở lại bình diện đạo đức hoặc là bước sang giai đoạn mới là ý thức giới hạn của họ và sự xa lìa Thiên Chúa là Đấng mà họ thuộc về và sứ mạnh của họ phải đến từ Ngài. Muốn qua giai đoạn mới này, con người cần phải có một sự dấn thân, một cái nhảy đức tin.

Ở giai đoạn tôn giáo, cái nhảy đức tin đưa con người vào sự hiện diện của Thiên Chúa, không phải là Thiên Chúa của lý trí triết học, nhưng là một chủ thể. Quan hệ giữa Thiên Chúa và một cá nhân là một kinh nghiệm độc nhất vô nhị và chủ quan. Qua đó Kierkegaard muốn nhấn mạnh rằng cách duy nhất để vượt quan khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người không phải bằng lý trí nhưng bằng đức tin.

Tóm lại, con người của Kierkegaard là con người hiện sinh bị “ném vào thế giới này”, nhưng được thúc đẩy đi tìm ý nghĩa của cuộc đời. Đức tin là hậu quả của tình huống hiện sinh, là ân sủng và là nhu cầu giúp con người vượt qua được giới hạn của tình huống hiện sinh là cái chết, sự không hiện hữu, sự không tồn tại. Kierkegaard tin rằng con người hiện sinh là một cá nhân hiện diện trước mặt Thiên Chúa và là một con người giữ vững đức tin của mình.


Jean-Paul Charles Aymard Sartre (1905-1980): con người phi lý hiện sinh

Nói đến triết học hiện đại của thế kỷ 20 là phải nói đến triết học hiện sinh. Và nói đến trào lưu triết học này, không thể không nói đến một trong những đại diện tiêu biểu nhất. Đó là J. P. Sartre - hơn nữa triết gia hiện sinh chủ nghĩa lừng danh này còn được xem là đại diện của người “trí thức phái tả phương Tây”. Thật vậy, với ông: “Nhà văn buộc phải đứng về phe đông đảo nhất, phe của hai tỷ người nghèo đói…nếu không, y chỉ là người làm mướn cho giai cấp tư sản và cũng bóc lột như giai cấp này”. Phải nói ông không chỉ hạn định nhiệt huyết của mình cho hai tỷ người nghèo khổ mà cho tất cả con người nói chung. Sartre không những chỉ là một triết gia độc đáo, một tâm lý gia tài năng, một nhà hùng biện được kính trọng; mà hơn nữa, ông còn là một nhà văn cực kỳ sắc bén, nhậy cảm với những vấn đề thời đại; dám viết về những đề tài cấm kỵ (tabou) một cách thản nhiên - điều mà ngay cả những nhà văn “hiện thực” bạo gan nhất cũng phải e dè, nên trong những năm từ 1945 -1955, giới trẻ tôn vinh ông làm thần tượng. Người ta đua nhau nói đến hiện sinh, sống theo hiện sinh và xem ông như giáo chủ của trào lưu triết học này.

Có thể nói Sartre nổi trội trong thế giới hiện sinh chủ nghĩa, vì ông đã nêu lên một cách hăng hái nhất về tính thực tế đầu tiên của cái “tôi đang sống đây!” Nói như Simone De Beauvoir: “Chỗ nổi bật của Sartre là toàn tâm toàn lực chú trọng đến thực tại!". Phải nói Sartre chú trọng đến thực tại, không chỉ có nghĩa ông quan sát, theo dõi hay phân tích để hiểu thực tại, mà theo nghĩa bao trùm tất cả: đó là “hành động”: Không có ai và không có cái gì tạo ra con người, ngoại trừ chính hành động của họ. Do đó “Con người là một dự tính của chính mình và tự tạo ra mình, chính việc làm mới mặc khải hữu thể”.

Có thể xem những lời trên là tuyên ngôn cho thuyết hiện sinh hành động của Sartre. Thế nhưng, những triết lý căn bản của ông được trình bày trong cuốn sách nổi tiếng ”L’être et le néant - Hữu thể và hư vô ” mà nhiều người thường xem là nền tảng của triết học Sartre, lại cho thấy những mặt khác trong tư tưởng của ông, và những mặt khác này khó có thể đồng thuận về mặt luận lý để dẫn tới chủ nghĩa hiện sinh hành động nổi tiếng nói trên. Tựu trung mỗi triết thuyết đều đưa ra quan điểm về ba vấn đề then chốt trong triết học: thượng đế, vũ trụ, con người. Sartre là một triết gia vô thần, nên ông đương nhiên ông phủ định thượng đế hiện hữu. Cái nhìn này cũng không có gì mới mẻ lắm, chẳng hạn ông cho rằng thượng đế chỉ là một dự phóng, một phóng thể (projet) của con người - nói một cách dễ hiểu - là chính con người đã tạo ra thượng đế theo sự tưởng tượng của mình. Hegel đã nói như thế, L. Feuerbach cũng nói như thế và K. Marx cũng lặp lại như vậy. Có khác là ở chỗ Hegel đã đưa ra một giải đáp về thượng đế, còn Marx thì tìm cách để chấm dứt cái phóng thể lớn nhất đó của con người.


Triết lý nhân sinh của Nguyễn Du (1765–1820)

”Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân”Truyện Kiều” của Nguyễn Du, chúng ta thấy có những khác biệt rất rõ với - nhất là với triết lý nhân sinh của thuyết ”Tài - Mệnh tương đố” cũng như quan niệm về ”Tâm”.  

Mở đầu “Kim Vân Kiều truyện”, sau khi dẫn 8 câu thơ thất ngôn tả cảnh mùa xuân, hội Đạp Thanh, nói về phận bạc duyên may, Thanh Tâm Tài Nhân đã viết: “Xưa nay, đại phàm những bậc giai nhân tuyệt sắc, thường không được hưởng hạnh phúc giàu sang mà hay gặp những cảnh khắt khe, khổ sở. Xem như Chiêu Quân, Quý Phi, Phi Yến, Linh Đức, Tây Tử, Điêu Thuyền... toàn là những bậc hương trời sắc nước cả, nhưng số mệnh có ra gì đâu. Đó chẳng qua là con tạo ghét ghen, đã cho 10 phần nhan sắc thì bắt phải chịu 10 phần đố kỵ, đã cho một chút tài tình, lại tăng lên mấy tầng nghiệp chướng”.

Còn Nguyễn Du lại mở đầu “Truyện Kiều” với những câu thơ mà hầu như người Việt Nam nào cũng thuộc:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Lạ gì bỉ sắc tư phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Cảo thơm lần giở trước đèn

Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.


Cái “cõi người ta” ấy thực ra không phải chỉ là thân phận phụ nữ và cũng không hẳn chỉ là “trăm năm”. Và”trải qua một cuộc bể dâu, “những điều trông thấy” của Nguyễn Du - dù được viết như là đề từ của “Đoạn trường Tân Thanh” (Truyện Kiều) nhưng không chỉ gói gọn trong những kiếp người - mà là cả một “cõi người ta”.


Ở đoạn kết cũng vậy, triết lý nhân sinh, thuyết Tài - Mệnh tương đố và những đúc kết về cuộc đời đã làm nên những nét rất đặc biệt của đại thi hào Nguyễn Du:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Có đâu thiên vị người nào

Chữ Tài chữ Mệnh dồi dào cả hai.


Trong đời sống hàng ngày, người ta thường hay giản lược rằng tất cả là cái số, tất cả do trời định, trời thương thì mọi sự tốt đẹp, suông sẻ - không thương thì rủi ro, bất hạnh cũng đành chịu. Hoặc giả: có duyên, tốt phúc thì lấy được chồng giàu sang, phú quý, còn vô duyên, hồng nhan bạc phận thì như cánh hoa tàn. Trong Truyện Kiều, nhiều lần Nguyễn Du đã để cho nhân vật Thúy Kiều cảm thấu sâu sắc triết lý này và chấp nhận quy luật Tài - Mệnh tương đố:

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn

Liều đem tấc cỏ quyết đền ba sinh...

Phận dầu, dầu vậy, cũng dầu...

Đến phong trần, cũng phong trần như ai...

Thân lươn bao quản lấm đầu

Tấm lòng trinh bạch lần sau xin chừa…


Hay khi đọc những câu

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao


chúng ta cảm nghiệm được lòng cam chịu, an phận thủ thường, không phù hợp và làm chúng ta liên tưởng tới quan niệm về chữ “thân” trong ca dao:


Thân em như hạt mưa sa

Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa,

Thân em như dải lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai,

Thân em như hạc đầu đình

Muốn bay không cất nổi mình mà bay


Muôn sự tại trời, trời kia bắt mỗi người có một thân phận và người càng có tài thì mệnh càng bạc. “Tài - Mệnh” luôn tương đố với nhau:


Có tài mà cậy chi tài

Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.


Ngày nay - khi người phụ nữ đã được giải phóng, gông cùm của xã hội phong kiến đã hoàn toàn bị xóa bỏ - thì lời khuyên ấy không còn phù hợp mấy, nhưng đặt vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam vào thế kỷ 18, đặc biệt là với những người con gái tài sắc, nhiều khát vọng tình yêu và khát vọng đổi đời mới thấy hợp lý. Đây cũng chính là sự mâu thuẫn trong nội tại tâm hồn, tư tưởng của Nguyễn Du: vừa mong giải phóng cho người phụ nữ, đề cao tình yêu và tài sắc của họ, vừa muốn an ủi họ hãy chấp nhận sự nghiệt ngã của số phận - mà thực chất là chấp nhận sự ngang trái do các thế lực cường quyền tạo nên.

Điều khác biệt của Nguyễn Du với các nhà tư tưởng, các bậc thức giả đương thời là ông đã đề cao chữ Tâm, đánh giá nó gấp ba lần chữ Tài.

Điều này đã trở thành triết lý kinh điển của thi nhân hàng trăm năm qua luôn được người đời sau đề cập và ghi nhận. Cho đến hôm nay, nhiều người vẫn coi đó là lời răn dạy cho mình trong công việc cũng như trong cuộc sống:

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.


Sự phát triển cái “thiện” thành chữ “tâm” là một bước chuyển trong triết lý nhân sinh của Nguyễn Du, một con người từng trải qua nhiều cảnh ngộ, phải quăng quật giữa mưa gió cuộc đời, thấm thía rất nhiều nỗi đau khổ của con người.

Sức sống, sự lan tỏa, lay động, thức tỉnh của câu thơ: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” thực sự đã vượt ra ngoài tầm thời đại Nguyễn Du, vượt ra ngoài không gian biên giới Việt Nam, trở thành giá trị xuyên thời đại. Triết lý sống Tâm - Tài của Nguyễn Du có giá trị bền lâu trong đời sống, giúp cho đạo đức xã hội được bền vững, góp phần xây dựng phẩm chất con người mới Việt Nam cũng như mọi cộng đồng khác trên thế giới. Đây chính là sự vượt xa về tầm tư tưởng cũng như tài năng của Nguyễn Du so với Thanh Tâm Tài Nhân.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Cách đây 526 năm, xã Lý học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, nơi được gọi là "địa linh nhân kiệt" đã sinh ra cho đất nước ta một nhà lý học nổi tiếng, một nhà tiên tri giỏi, một nhà thơ lớn với những đóng góp quý báu cho nền thi ca Việt Nam - đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585).

Trong di sản của ông còn sót lại đến ngày nay, chúng ta mới chỉ mới từng bước khám phá từng phần những tư tưởng uyên thâm xen kẽ giữa những vần thơ tức sự, cảm hứng, những bài vịnh và những văn bia. Những quan điểm triết học trong tư tưởng của ông đang ngày càng đòi hỏi phải vận dụng những phương pháp khoa học để minh chứng cho một điều là, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đặt và giải quyết một số vấn đề triết học không kém phần bác học so với các bậc hiền triết trên thế giới cùng thời, tức là những vấn đề quan trọng của khoa học lịch sử triết học - mà trong đó, một vấn đề đáng được nghiên cứu một cách sâu xa  là triết học tự nhiên trong tư tưởng của ông. Do tính đặc thù trong những di sản tinh thần mà Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại là các tư tưởng được ông trình bày trong đó không theo một hệ thống chuyên đề triết học riêng biệtđa số các công trình nghiên cứu về tư tưởng của ông chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa các quan điểm triết học trên hai phương diện cơ bản là "đạo Trời" và "đạo Người" - mà hai phạm trù triết học đó không thể hiện một cách đầy đủ toàn bộ tư tưởng triết học của ông. Riêng khái niệm "đạo Trời" đã làm chúng ta liên tưởng ông là một “nhà nho thuần tuý" với những tư tưởng chính trị - đạo đức kết hợp với tư tưởng "mệnh trời" và "lý số” của Khổng giáo. Nếu mạnh dạn tra cứu sâu xa hơn về "đạo Trời" trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm - một hiền sĩ không chỉ chịu ảnh hưởng của tam giáo (Nho, Phật và Lão), mà còn cả ý thức bản địa, chúng ta sẽ thấy: bản thể luận trong thế giới quan của ông có nhiều điểm khác với học thuyết của các bậc tiên nho, đưa nhận thức vào các quan hệ xã hội - làm cho triết học tự nhiên của ông thật độc đáo.

Xét một cách tổng thể, Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng sâu sắc các học thuyết Tống Nho, Đạo Phật và Lão Trang. Bản thể luận mà ông đề cập đến khi trình bày các quan điểm triết học của mình đã vượt ra ngoài phạm vi của "đạo Trời". Tuy nhiên, chúng ta không nên so sánh bản thể luận đó với bản thể luận của các nhà triết học tự nhiên thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu như Leonard De Vince, Nicolas Copernic - bởi họ đều là những nhà khoa học tự nhiên.

Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng sâu sắc triết học tự nhiên của Kinh Dịch. Bất kỳ ai đã làm quen với các khái niệm cơ bản của Kinh Dịch cũng đều hiểu được việc ông vận dụng một cách tài tình các nguyên lý của Dịch vào thơ văn của mình như thế nào. Kinh Dịch không chỉ là một cuốn sách triết học cổ nhất của Trung Hoa, mà còn là một cuốn bách khoa kinh nghiệm cho nghề nông của nước này đó là sự phát hiện ra các hiện tượng, các quy luật của tự nhiên được kiểm nghiệm qua mấy nghìn năm và từ đó, người Trung Hoa tiến hành biểu tượng hóa, mô hình hóa các hiện tượng, các quy luật của tự nhiên bằng các vạch liền và đứt (vạch liền gọi là hào dương, vạch đứt gọi là hào âm). Các vạch này liên kết với nhau theo tổ hợp ba vạch, tạo thành tám quẻ (bát quái), một lần nữa, các quẻ này lại liên kết với nhau theo những phương án có thể để tạo thành 64 quẻ kép với sự tham gia của 384 hào. Theo người Trung Hoa cổ đại, 64 quẻ này là tổng hợp hết thảy các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và từ đó, có thể suy diễn được sang lãnh vực xã hội. Trong di sản tinh thần cổ đại của Trung Hoa, Kinh Dịch không chỉ là tác phẩm triết học thành văn đầu tiên, mà còn là công trình khoa học dựa trên kinh nghiệm cuộc sống. Nó đóng vai trò làm lịch và trợ giúp nghề nông của người Trung Hoa cổ đại.

Nguyễn Bỉnh Khiêm vận đụng các nguyên lý của Kinh Dịch để phát biểu thế giới quan của mình khá nhiều lần trong các bài thơ về các hiện tượng tự nhiên, về thế sự và thời cục diễn ra trong xã hội. Thơ của ông thường biểu hiện sự mô phỏng các quy luật tự nhiên trong đời sống xã hội. Ông mô tả quá trình sinh thành của vũ trụ và sự hình thành các nguyên tắc của đời sống xã hội trên cơ sở các quy luật tất yếu của tự nhiên như sau: "Thái cực khi mới bắt đầu phân chia thì tam tài đã xác định được vị trí của mình. Nhẹ và trong bay lên tạo thành trời, nặng và đục lắng xuống thành đất, ở giữa kết tụ lại thành người. Cả ba bộ phận ấy đều xuất phát từ một khí”. Đây là cách trình bày theo quan điểm triết học tự nhiên, nhưng hoàn toàn không phải là của Nguyễn Bỉnh Khiêm như một số tác giả nhận định, mà là quan điểm vũ trụ luận truyền thống của Trung Hoa. Nhưng công của Nguyên Bỉnh Khiêm trong việc sử dụng quan điểm đó để truy cứu các hiện tượng xã hội theo tinh thần của triết học tự nhiên thì không ai có thể phủ nhận được. Ông còn viết: "Bậc thánh nhân theo khuôn phép của trời, muôn đời ập nên kỷ cương của loài người, noi theo được cái tất đẹp của ngũ điển, trình bày được cái đầy đủ của cửu trù. Vua và tôi phải có nghĩa với nhau, cha và con cái tình thân là tột độ, chồng và vợ kẻ xướng có người tuỳ, anh với em thì có đễ, chơi với bạn thì giữ vững điều tín".

Như vậy, nếu tam tài xuất phát từ khí thì bậc thánh nhân cũng theo đó mà đặt ra ngũ luân cho quan hệ xã hội. Vũ trụ không ngừng vận động, biên đổi do hai thế lực âm dương tác động với nhau, phát triển đến cùng cực thì quay lại cái điểm xuất phát theo nguyên lý của thái cực. Quan hệ xã hội cũng vậy, thời cục có lúc lên lúc xuống, đời này qua đời khác không giống nhau về hoàn cảnh cụ thể. nhưng phải theo các nguyên tắc cương thường mà thánh nhân đặt ra, có như vậy, phong hóa và trật tự xã hối mới được duy trì và ồn định.

Một đặc điểm nữa trong quan điểm triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm là so sánh tính tương đồng về mặt cấu trúc cũng như đặc tính của tiểu vũ trụ và đại vũ trụ. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhận xét linh hoạt hơn đối với quan niệm truyền thống phương Đông về vũ trụ được hai biểu tượng cứng nhắc là trời phải tròn, đất phải vuông. Trời là cha biểu thị cho thế lực dương, đất là mẹ, biểu thị cho thế lực âm. Âm dương giao cảm mà tác thành vũ trũ theo nguyên lý của đạo, hoặc nói theo ngôn từ của Lão Tử, “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bạch dương, trùng khí dĩ vi hòa - Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều cõng âm mà ôm dương điều hòa bằng khí trùng hư". Con người với tính cách là sản phẩm của sự kết tụ tinh túy giữa trời đất cũng phải hội đủ những điều kiện cần thiết để có ích cho xã hội.

Quan điểm triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm về quá trình hình thành và phát triển của vũ trụ chỉ dừng lại ở việc mô phỏng, tạo điều kiện cho việc so sánh sự giống nhau ở tính huyền diệu của tiểu vũ trụ và vũ trụ bao la, thăm thẳm mà chúng ta đang sống. Mục đích của nó, suy cho cùng, nhằm trả lời cho vấn đề triết học muôn thuở: con người ta từ đâu mà ra, cuộc sống của nó phải trải qua những bước căn bản nào và khi đến chặng cuối của cuộc đời, nó đi đâu về đâu?

Tư tưởng về sự tiến hóa của vũ trụ theo quy luật tuần hoàn: "Nhất chu khí vận chung nhi thuỷ. Bác phục đô tòng thái cực tiên - khí vận chuyển rồi lại quay trở về nguồn gốc, hết quẻ bác đến quẻ phục rồi lại trở về với gốc thái cực” - đã làm cho Trạng Trình liên tưởng ngay đến các hiện tượng xã hội như có rồi lại mất, vào rồi lại ra, vào càng dễ thì ra cũng càng dễ, không ai có thể bảo tồn được vĩnh viễn cái mình đang có.

Ý nghĩa của quan điểm triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện rõ ở phương diện giáo dục con người thống qua nhận thức quy luật của tự nhiên phải hiểu được đạo rồi mới tạo được đức, bởi đức là cơ sở để đạo thể hiện. Sự liên hệ này mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc: con người sống trong tự nhiên, đồng thời bị ràng buộc bởi các quan hệ xã hội.

Chúng ta có thể so sánh tiểu vũ trụ và đại vũ trụ của Nguyễn Bỉnh Khiêm với Âtman và Brahman trong triết học Ấn Độ không? Theo thiển ý của chúng tôi, vì Nguyễn Bỉnh Khiêm không đi sâu vào triết lý sống trong tương quan giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ - mà chỉ đặt tư duy vào thế giới tự nhiên mà thôi, trong khi đó, triết học Ấn Độ lại muốn tìm cách sống cân bằng trong cuộc đời thường với Đấng-Tối-Cao - nên khó có thể thể làm một so sánh nào được.


Lối ra

Khởi từ cái nhìn về chính mình của Socrates, chúng ta đã tư duy về sự giằng co giữa cuộc hiện sinh hữu hạn trong khắc khoải hướng về Thiên Chúa của S. Kierkegaard và đã tìm hiểu quan điểm hành động và tự do tuyệt đối của J.P. Sartre trong khuynh hướng vô thần - rồi sau đó quay sang đông phương với “cái tâm” của Nguyễn Du và cái nhìn tổng quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong triết lý tự nhiên khởi từ kinh dịch.

Một vài tư duy căn bản này hé mở cho chúng ta thấy triết lý là chính cuộc sống, là những suy tư về cuộc đời, để sống cho khôn ngoan, sáng suốt và hạnh phúc. Triết lý là một nỗ lực không ngừng của con người đi tìm chân lý và hạnh phúc trong đời.

Nhưng cuộc đời là một thực tại sống động, muôn mặt, thay đổi một cách hết sức linh động nơi mỗi người. Hoàn cảnh sống, tính tình, cấu tạo tâm lý, thể lý của mỗi người rất khác biệt nhau, nên không có cuộc đời nào giống cuộc đời nào cả. Vì thế, mỗi người nhìn cuộc đời một cách khác nhau, có lập trường sống khác nhau.

Mà cuộc đời cũng không phải là một ý niệm, một thực tại khách quan ở ngoài mình, nhưng cuộc đời luôn luôn ở trong ta và chính là ta.  Và ta chỉ có thể là ta trong hiện tại. Cái ta của quá khứ hoàn toàn vuột khỏi tầm tay của ta, còn cái ta của tương lai, ta cũng không làm chủ được, và ta không thể biết cái ta tương lai sẽ ra sao.  Ta chỉ làm chủ được ta trong giây phút hiện tại mà thôi.

Chỉ có sống giây phút hiện tại thật tràn đầy mới giúp ta hạnh phúc và giải thoát ta khỏi những ràng buộc của quá khứ và tương lai.  Nhưng giây phút hiện tại không phải là cái gì có thể cầm nắm hay giữ lại được. Ta vừa mới ý thức về nó thì nó đã trở thành quá khứ, nhường chỗ cho một giây phút khác trở thành hiện tại. Bí quyết sống hạnh phúc, chìa khóa của giải thoát chính là sống hiện tại cho thật tràn đầy, cho thật ý nghĩa.

Hạnh phúc lại mang tính chủ quan hơn khách quan và tùy thuộc vào tâm trạng của ta hơn vào hoàn cảnh bên ngoài.  Thật vậy, hai người cùng sống trong một hoàn cảnh y như nhau, nhưng một người cảm thấy hạnh phúc, một người cảm thấy đau khổ.  Người cảm thấy hạnh phúc là do người ấy bằng lòng với cảnh mình đang sống, cho rằng cảnh mình đang sống là hạnh phúc.  Kẻ cảm thấy đau khổ là do người ấy không bằng lòng với cảnh mình đang sống, cho rằng cảnh mình đang sống là đau khổ. Điều ấy khác gì hai tù nhân kia cùng nhìn qua song cửa sổ, một người nhìn thấy trăng sao đẹp tuyệt vời trên bầu trời bao la, còn người kia chỉ nhìn thấy trước mắt một vũng bùn dơ bẩn hôi hám.  Thấy trăng sao hay thấy vũng bùn đâu tùy thuộc vào ngoại cảnh, mà tùy thuộc vào người nhìn: có nhìn lên trời thì mới thấy trăng sao, còn nhìn xuống đất làm sao khỏi thấy vũng bùn?

Hạnh phúc của người truy tầm triết lý là sống trọn vẹn và bằng lòng với hiện tại, luôn tôn trọng mỗi người mà không đòi buộc mọi người theo mình.   





Lên trên Xem vninfo's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của vninfo
 

Nếu bạn muốn trả lời thì trước tiên bạn phải đăng nhập
Nếu chưa đăng ký thì bạn hãy đăng ký

  Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Mục lục
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn




Nội dung và quan điểm của những bài viết trên trang web này thuộc về tác giả. Vinanet.dk không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như quan điểm của bài viết.
Email: Vinanetadmin@gmail.com
 

  HOT LINKS       

Benzinpriser
Akut-hjælp
Midttrafik
Linkworld.dk
Valuta   Tỷ giá
Bilbasen
Århus.dk
Home.dk
Borger.dk
Boligportal.dk
Guide.dk
Den Blå Avis
TV-Guide
GulOgGratis
Bibliotek
TestDinHastighed
Postdanmark
DenDanskeBank
Finfo
Team viewer
DivShare
CountryCodes
TV other languages
Dailigmotion
Time-Weather
Ebay
Youtube
Imageshack
eTilbudsavis
Veoh.com
4shared
Scribd
Keepvid
Archive.org
Authorstream
Esnips
Unikey 4.0
PhôngChữ
MediaFire
Video4Viet
TV CôngGiáo
Hyperfileshare
VieTVusa
LittleSaigonTV
VietPho TV
3D album
TV PhậtGiáo
Rapidshare
NCT     mp3.zing
Tixpod