Hiển thị danh sách thành viênThành viên  Thư kýThư ký  Sự kiệnSự kiện  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Thư Viện Online
 Vinanet forum : Thư Viện Online
Tiêu đề Chủ đề: Truyện Cổ Tích Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Tác giả
Nội dung << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:34 | IP Logged Trích dẫn halong

Con rắn trắng


Ngày xưa có một ông vua nổi tiếng trong cả nước là khôn
ngoan. Không cái gì là vua không biết, dường như gió đưa lại cho
vua những tin tức bí mật nhất.
Vua có một thói quen kỳ lạ. Sau bữa ăn trưa, khi đã dọn bàn
xong, không còn ai nữa thì một người hầu tin cẩn bưng thêm vào
cho vua một bát. Bát đậy kín, ngay người hầu cũng không biết
trong có gì. Cũng chẳng ai được biết, vì vua đợi đến khi chỉ còn một
mình mới mở ra ăn. Cứ thế mãi tới một hôm, người hầu quá tò mò,
khi bưng bát không nhịn được nữa, đem bát về buồng mình. Anh ta
khóa cửa cẩn thận rồi mở nắp ra, thấy ở trong có một con rắn trắng.
Anh giữ mồm không được, muốn nếm thử bèn cắt một miếng bỏ
mồm. Anh vừa động lưỡi thì nghe thấy ở bên cửa sổ có tiếng nói rì
rào là lạ. Anh lại nghe, thì ra chim sẻ chuyện trò với nhau, kể cho
nhau nghe chúng đã thấy gì ở đồng ruộng và ở núi rừng. Thì ra
chính vì anh ta ăn rắn mà hiểu được tiếng nói loài vật.
Đúng ngày hôm đó, hoàng hậu mất chiếc nhẫn đẹp nhất và
nghi cho người hầu tin cẩn ấy ăn cắp vì anh ta vẫn được đi lại tự do
trong cung. Vua truyền gọi anh đến, mắng anh thậm tệ, hẹn cho
đến sáng hôm sau nếu không tìm ra được kẻ gian thì sẽ bị coi là thủ
phạm và đem xử tội. Anh kêu oan cũng vô ích, và bị đuổi ra ngoài
một cách tàn nhẫn. Anh lo sợ, xuống sân để nghĩ xem có cách nào
thoát không.
Ở đây có đàn vịt đang chụm nhau ngồi bên dòng nước vừa rỉa
lông vừa chuyện trò bù khú. Anh người hầu đứng nghe. Vịt kể lể với
nhau sáng nay lạch bạch đi đâu, tìm được món gì ngon. Một con cáu
kỉnh nói:
- Bụng tao anh ách khó chịu quá. Trong lúc vội vã, tao nuốt
phải cái nhẫn rơi ở dưới cửa sổ hoàng hậu.
Anh người hầu liền tóm ngay cổ con vịt ấy mang vào bếp bảo
nhà bếp:
- Bác thịt con này đi nhé, nuôi béo lắm rồi đây!
Nhà bếp nhận lời, nhắc vịt lên xem đã nặng chưa rồi nói:
- Chú mày tọng cho đầy, đợi ngày được quay cũng đã lâu rồi
đấy!
Bác ta chặt cổ, mổ vjt. Anh người hầu tìm thấy chiếc nhẫn của
hoàng hậu trong mề vịt nên việc minh oan cũng dễ dàng. Nhà vua
muốn đền bù cho anh, hỏi anh muốn gì và hứa phong cho anh chức
tước cao nhất triều đình.
Anh ta không nhận mặc dù còn trẻ và đẹp trai. Anh chán ngán
không thiết ở lại nữa. Anh chỉ xin một con ngựa và ít tiền ăn đường
đi chu du thiên hạ.
Một hôm, anh đi qua một cái ao thấy có ba con cá bị mắc vào
đám sậy, đang thoi thóp. Người ta nói là cá thì câm, vậy mà anh lại
nghe thấy chúng than vãn vì bị chết một cách bi thảm như thế. Anh
vốn nhân từ, nên xuống ngựa gỡ cá thả xuống nước. Cá vui mừng
quẫy, thò đầu lên kêu:
- Cám ơn ân nhân đã cứu chúng tôi, thế nào chúng tôi cũng xin
trả ơn này!
Anh lại cưỡi ngựa đi. Đi một lúc chợt nghe như có tiếng nói ở
trên cát, ngay dưới chân. Anh lắng tai nghe thấy kiến chúa than
vãn:
- Giá loài người đừng để những con vật thô lỗ đụng đến mình có
phải hay không. Cái con ngựa ngu ngốc này lại sắp lấy móng nặng
giẫm nát trăm họ của ta mà không chút động lòng đây.
Anh bén tránh sang bên đường. Kiến chúa kêu:
- Cám ơn ân nhân, chúng tôi sẽ trả ơn này.
Đi qua rừng, anh thấy bố quạ và mẹ quạ đậu bên tổ vứt lũ quạ
con xuống kêu:
- Cút đi, đồ chết đâm chết chém. Chúng tao không nuôi báo cô
chúng mày mãi được. Nhớn rồi, liệu đi mà kiếm ăn lấy!
Tội nghiệp lũ quạ con nằm xoài dưới đất, cố vỗ cánh kêu...
Chim con yếu ớt, bay còn chưa nổi, kiếm mồi làm sao được! Thôi thì
đành nằm đây chờ chết đói vậy.
Anh thanh niên xuống ngựa, rút gươm chém chết ngựa cho quạ
con ăn. Quạ con nhảy tới ăn no nê rồi gọi:
- Cảm ơn ân nhân, chúng tôi sẽ trả ơn này.
Anh đành đi bộ, đi mãi tới một thị trấn lớn. Trong phố có tiếng
ồn ào, nhân dân xô nhau nghe một người cưỡi ngựa đến báo là công
chúa kén chồng, ai muốn hỏi phải làm một việc rất khó, nếu chẳng
may không làm được thì toi mạng. Có nhiều người đã thử nhưng
đều bị chết. Anh thanh niên trông thấy công chúa đẹp lộng lẫy mê
mẩn cả người, quên hết nguy hiểm, đến tâu vua xin làm rể.
Người ta đưa anh ra bể, vứt trước mặt anh một chiếc nhẫn
vàng xuống nước. Nhà vua truyền cho anh mò chiếc nhẫn lên và
phán:
- Nếu nhà ngươi lên tay không thì sẽ lại bị ném xuống bể cho
đến khi chết đuối.
Mọi người đều tiếc cho đời chàng thanh niên đẹp trai. Chàng ở
lại bờ bể một mình nghĩ xem nên làm gì thì bỗng thấy có ba con cá
bơi lại. Chính là ba con cá mà anh đã cứu trước đây. Con bơi giữa
ngậm ở mồm một con hến và đặt hến lên bãi bể bên chân chàng.
Chàng cầm hến lên mở ra thì thấy ở trong có chiếc nhẫn vàng.
Chàng mừng lắm đem nhẫn dâng vua, tưởng nhà vua giữ lời hứa
thưởng cho mình. Nào ngờ công chúa vốn kiêu kỳ, thấy chàng
không phải môn đăng hộ đối, khinh rẻ chàng và bắt chàng phải làm
việc khó thứ hai. Nàng vào vườn, rắc mười bị kê xuống cỏ và bảo:
- Từ giờ đến sớm mai, trước khi mặt trời mọc, anh phải nhặt
cho kỳ hết kê, không được thiếu hạt nào.
Anh thanh niên ngồi trong vườn nghĩ mãi không biết làm như
thế nào. Anh rầu rĩ ngồi đợi sáng cho người ta dẫn ra pháp trường.
Ánh bình minh vừa chiếu vào vườn thì anh thấy mười bị kê đầy xếp
cạnh nhau, không thiếu hạt nào. Thì ra đêm ấy, kiến chúa đã cùng
hàng nghìn vạn kiến quân kéo đến. Các con vật biết ơn đã cần cù
nhặt kê bỏ bị. Công chúa đích thân xuống vườn xem. Nàng hết sức
ngạc nhiên thấy anh thanh niên đã làm được việc mình giao cho.
Nhưng nàng vẫn chưa hết kiêu kỳ, lại bảo:
- Tuy anh đã làm được hai việc, nhưng muốn lấy ta thì còn phải
dâng ta một quả táo trường sinh .
Anh không biết cây ở đâu, nhưng cũng đành lên đường nhắm
mắt đưa chân một cách tuyệt vọng. Anh đã đi qua cả nước, một tối
kia tới một khu rừng. Anh ngồi xuống gốc cây, định đánh một giấc.
Bỗng thấy trên cành cây có tiếng rào rào, rồi một quả táo vàng rơi
vào tay anh. Cùng lúc có ba con quạ bay xà xuống, đậu lên đầu gối
anh nói:
- Chúng tôi là ba quạ con mà ân nhân đã cứu khỏi chết đói.
Chúng tôi nay đã lớn, thấy ân nhân đi tìm quả táo trường sinh, vội
vượt bể đến tận cùng thế giới là nơi có cây trường sinh để hái quả
táo này.
Anh thanh niên mừng lắm, mang táo về dâng công chúa xinh
đẹp. Nàng không còn hoạnh họe gì được nữa, đem cắt đôi quả táo
cùng anh ăn. Lòng nàng bỗng tràn ngập tình yêu. Hai vợ chồng
hưởng hạnh phúc cho đến lúc đầu bạc răng long.
Các em có muốn mình nghe được tiếng loài vật như người hầu
ở trong truyện này không? Thật là kỳ diệu biết bao nếu điều đó là
hiện thực, đúng không nào? Qua câu chuyện này các em thấy yêu
quý và gần gũi các loài vật hơn.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:35 | IP Logged Trích dẫn halong

Người đầy tớ trung thành


Xưa có một ông vua tuổi già lâm bệnh, nghĩ bụng: "Ta chết đến
nơi mất rồi". Vua cho đòi "bác Jôhannơt trung thành" tới. Bác là
người hầu được vua yêu nhất. Bác đã suốt đời tận tụy với vua. Vì
vậy mà vua gọi bác là "bác Jôhannơt trung thành".
Khi bác đến bên giường vua, vua phán:
- Jôhannơt trung thành ơi, ta biết ta sắp chết, ta chỉ băn khoăn
về con ta. Nó còn ít tuổi, dại dột, nếu nhà ngươi không hứa với ta sẽ
dạy cho nó biết những cái gì cần biết và khuyên nó như người cha
thứ hai, thì ta không yên tâm mà nhắm mắt.
Bác Jôhannơt đáp:
- Dù phải hy sinh đến tính mệnh, thần cũng không rời bỏ
hoàng tử. Thần xin thề một lòng một dạ phụng sự hoàng tử.
Vua nói:
- Thế thì ta chết cũng được yên tâm. Sau khi ta đã nhắm mắt
rồi, thì nhà ngươi dẫn cho nó xem toàn thể cung điện, tất cả các
buồng, các phòng, các hầm, cùng tất cả châu báu ở đó, trừ cài buồng
ở cuối hành lang dài có bức chân dung công chúa Mai vàng, vì ta sợ
nó đâm si tình mà ngất đi, rồi sẽ gặp nhiều tai ương. Nhà ngươi
phải bảo vệ nó.
Sau khi nghe "bác Jôhannơt trung thành" thề lần thứ hai, vua
yên lặng, đặt đầu xuống gối, rồi tắt thở.
Tang lễ đã làm xong, bác Jôhannơt trung thành cho vua mới
biết lời mình thề với vua cha bên giường bệnh và nói:
- Thần sẽ giữ lời thề và sẽ tận tụy với bệ hạ cũng như với vua
cha, dù phải hy sinh tính mệnh cũng cam.
Đoạn tang vua cha, bác Jôhannơt trung thành tâu với vua mới:
- Bây giờ là lúc thần phải cho bệ hạ biết kho tàng của người.
Thần xin đưa bệ hạ đưa bệ hạ đi thăm cung điện vua cha để lại.
Bác dẫn vua đi khắp cả cung điện, từ trên xuống dưới, xem tất
cả của báu, trừ cái buồng có bức chân dung nguy hiểm là bác không
mở. Bức chân dung để ở chỗ mà mới thoạt mở cửa là nom thấy
ngay, lộng lẫy trông tựa người thật, đẹp và có duyên nhất trần gian.
Vua thấy đến cửa đó bác Jôhannơt đi thẳng qua liền hỏi:
- Sao nhà ngươi không mở cửa ấy cho ta?
Jôhannơt đáp:
- Dạ bẩm trong đó có cái đáng ngại cho bệ hạ.
Nhà vua nói:
- Ta đã xem tất cả cung điện, giờ ta muốn biết trong buồng này
có gì.
Vua sắp định cố sức ẩn cửa, thì Jôhannơt trung thành vội níu
lại nói:
- Khi vua sắp chết, thần đã hứa không để cho bệ hạ thấy vật ở
trong buồng, nếu không sẽ vạ đến bệ hạ và lẫn cả thần.
Nhà vua đáp:
- Không được. Nếu không vào được thì ta cũng đến héo hon. Ta
sẽ ăn không ngon ngủ không yên, nếu không được thấy cho tận
mắt. Ta cứ đứng lì đây cho đến khi nào ngươi chịu mở cửa ra.
Biết không ngăn được vua, Jôhannơt trung thành buồn bã thở
dài, tìm chìa khóa buồng trong chùm chìa khóa to của bác. Bác mở
cửa buồng vào trước, định che bức chân dung không cho vua trông
thấy, nhưng không được vì vua đứng kiễng lên nhìn qua vai bác.
Khi trông thấy người thiếu nữ đẹp lộng lẫy, đeo toàn vàng ngọc,
vua lăn ra, bất tỉnh nhân sự. Bác Jôhannơt trung thành nâng nhà
vua dậy, mang lên giường và lo lắng nghĩ: "Trời ơi! Tai họa đã xảy
đến rồi. Biết làm sao bây giờ?"
Bác đổ rượu vang cho vua. Vua tỉnh lại hỏi:
- Cô gái đẹp trong tranh là ai?
Jôhannơt trung thành đáp:
- Dạ thưa, đó là nàng công chúa Mai vàng.
Vua nói:
- Ta yêu nàng say đắm. Dẫu tất cả lá cây đều biến ra lưỡi thì
cũng không thể nói hết được lòng ta. Ta phải chiếm được nàng thì
ta mới sống được. Ngươi là Jôhannơt trung thành của ta thì ngươi
phải giúp ta làm việc này.
Người hấu trung thành suy nghĩ mãi, vì riêng việc tìm đến gặp
mặt Công chúa cũng đã khó. Mãi sau bác mới nghĩ ra một mẹo, liền
tâu vua:
- Chung quanh Công chúa, cái gì cũng bằng vàng, từ bàn ghế
đến bát đĩa cốc tách và các đồ gia dụng khác. Bệ hạ có cả thảy năm
tấn vàng. Bệ hạ nên giao cho thợ kim hoàn một tấn để làm đủ các
vật dụng cùng các loại chim, thú rừng, các con vật kỳ lạ. Công chúa
sẽ thích lắm. Ta sẽ đem những của đó đến gặp nàng xem sao.
Vua sai đòi tất cả các thợ kim hoàn trong nước đến bắt làm
đêm ngày cho xong những vật đẹp lộng lẫy. Khi đã đem các thứ đó
xuống thuyền, "bác Jôhannơt trung thành" ăn mặc giả nhà buôn,
vua cũng trá hình như vậy. Vua tôi vượt bể đi đến thành phố của
Công chúa Mai vàng.
"Jôhannơt trung thành" lên bến một mình, dặn vua ở lại chờ.
Bác nói:
- May ra thì thần đem được công chúa về đây. Vậy bệ hạ nên
cho dọn dẹp trang trí con thuyền, bày đồ vàng ra.
Sau đó, bác dắt vào lưng đủ mọi thứ nữ trang, rồi lên bờ đi đến
cung điện vua cha nàng.
Khi vào trong sân, bác thấy một cô gái đẹp ở gần giếng cầm hai
chiếc thùng vàng múc nước. Lúc quẩy nước lóng lánh đi, cô ngoảnh
lại, trông thấy khách lạ, liền hỏi bác là ai.
Bác cởi thắt lưng ra cho cô xem mà nói:
- Tôi là lái buôn, cô ạ.
Cô reo lên:
- Lắm đồ tư trang đẹp thật!
Cô đặt thùng nước xuống, xem từng thứ rồi nói:
- Công chúa thích đồ vàng lắm. Ông cho Công chúa xem, Công
chúa sẽ mua tất cả đấy.
Cô gánh nước đó là thị tì của Công chúa. Cô dẫn bác đến ra
mắt công chúa.
Công chúa thấy đồ nữ trang thích quá, nói:
- Đẹp lắm, ta muốn mua ngay tất cả.
Nhưng "bác Jôhannơt trung thành" bảo nàng:
- Tôi chỉ là đầy tớ của một phú thương. Những đồ này chỉ là
một phần không đáng kể trong số hàng của chủ tôi để ở trên
thuyền. Đồ vàng đó đẹp và quí giá vô cùng.
Nàng muốn bảo đem hàng đến cho nàng xem, nhưng bác
Jôhannơt nói:
- Hàng nhiều quá, phải nhiều ngày mới tải được hết đến đây.
Trong cung điện này e không có đủ phòng mà chứa.
Nàng càng thêm tò mò ao ước, nói:
- Thế bác đưa ta đến xem những vật quí của chủ để dưới
thuyền vậy.
Jôhannơt hớn hở đưa nàng về thuyền. Thấy nàng đẹp hơn cả
trong tranh, vua sướng ngây ngất. Nàng xuống thuyền, vua đón
vào.
Jôhannơt đứng đằng sau bảo người lái cho nhổ neo:
- Căng hết buồm ra cho thuyền lướt nhanh như chim bay.
Trong khi đó, ở trong thuyền, vua cho Công chúa xem bát đũa,
cốc chén, chim, thú rừng và những con vật kỳ lạ bằng vàng.
Nàng mải mê xem, không để ý là thuyền đã nhổ neo đi được vài
giờ rồi.
Xem xong, nàng cảm ơn người phú thương giả để về cung. Ra
tới mạn thuyền, nàng mới biết thuyền đã ra khơi, cánh buồm đương
căng thẳng. Nàng sợ hãi kêu lên:
- Thôi ta bị lừa rồi. Ta bị mắc vào tay một tên lái buôn, thà chết
cho rảnh.
Vua cầm tay nàng bảo:
- Tôi không phải là lái buôn, tôi là vua một nước, chỉ vì quá
yêu nàng nên phải dùng mưu bắt nàng. Lần đầu thoạt tiên trông
thấy chân dung nàng, tôi đã ngã xuống ngất đi.
Công chúa Mai vàng nghe nói yên tâm, cảm kích thuận lấy
vua.
Thuyền đang lênh đênh ngoài khơi thì một hôm, bác Jôhannơt
ngồi đằng mũi chơi đàn bỗng thấy ba con quạ bay đến trước mặt
bác. Bác bèn lắng tai nghe tiếng chúng vì bác hiểu tiếng chúng.
Một con nói:
- Úi chà! Vua bắt Công chúa Mai vàng đem đi về nhà rồi!
Con thứ hai nói:
- Nhưng vua chưa chiếm được Công chúa đâu.
Con thứ ba nói:
- Chẳng chiếm được là gì! Công chúa ngồi bên vua ở trong
thuyền ấy.
Con thứ nhất lại nói:
- Ăn thua gì! Khi vua lên bộ, một con ngựa màu hung sẽ nhảy
lại. Vua mà lên ngựa thì ngựa sẽ bay lên chín tầng mây, vua không
còn bao giờ thấy mặt vợ trẻ ấy nữa.
Con thứ hai nói:
- Có cách nào thoát nạn không?
Con thứ nhất đáp:
- Có chứ! Nếu có một người khác nhảy tót lên ngựa, rút súng ở
yên ra bắn cho nó chết thì cứu được vua. Nhưng ai biết được việc
đó? Người nào biết mà nói với vua thì sẽ hóa đá từ chân đến đầu
gối.
Con thứ ba nói:
- Tao còn biết thêm là dù con ngựa có bị giết chăng nữa vua
cũng không lấy nổi Công chúa đâu! Khi hai người về đến cung điện,
thì thấy một cái đĩa vàng trong đặt một cái áo lót của chú rể trông
như dệt bằng vàng bằng bạc nhưng kỳ thực chỉ là nhựa thông và
diêm sinh. Nếu vua mặc áo lót đó thì sẽ bị thiêu đến xương tuỷ.
Con thứ nhất hỏi:
- Không có cách nào tránh được nạn ấy à?
Con thứ hai đáp:
- Có, miễn là có người đeo bao tay, cầm áo lót ném vào lửa thì
vua thoát nạn, Nhưng cũng chẳng ăn thua gì! Người nào biết mà
nói ra cho vua biết thì sẽ hóa đá từ đầu gối đến quả tim.
Con thứ ba nói:
- Tao còn biết thêm là áo lót có cháy đi nữa, vua cũng vẫn chưa
lấy được vợ, vì sau lễ cưới, nếu cô dâu khiêu vũ thì người bỗng sẽ
tái đi, rồi chết ngất. Nếu không có người nâng nàng dậy, mút ngực
bên phải ra ba giọt máu, rồi nhổ ngay đi, thì nàng bị chết mất.
Nhưng ai biết mà nói ra cho vua biết, thì sẽ hóa đá từ đầu đến
chân.
Ba con quạ nói chuyện xong lại bay đi. Từ khi được biết hết sự
việc, bác Jôhannơt buồn rầu, không nói năng gì cả. Không nói thì
hại đến chúa mà cho chúa biết thì thiệt đến thân, Nhưng sau bác
nghĩ bụng: "Ta nhất định cứu chúa, dù phải hy sinh tính mệnh
cũng cam".
Thuyền cặp bến, sự việc xảy ra đúng như lời quạ nói. Một con
ngựa hung rất đẹp nhảy tới.
Vua nói:
- Được để ta cưỡi nó về cung.
Vua chưa kịp lên ngựa thì bác Jôhannơt đã nhảy lên, rồi rút
súng ở yên ra bắn chết con ngựa.
Những tên hầu khác vốn ghen ghét bác Jôhannơt nhao nhao
lên:
- Nó xược quá! Dám giết con ngựa đẹp đem đến để vua cưỡi về
cung.
Nhưng vua bảo chúng:
- Chúng bay im đi, "Jôhannơt trung thành" của ta làm như thế
chắc là có lý do chính đáng.
Vua và Công chúa về cung thì thấy trên một cái đĩa bằng vàng
có một chiếc áo lót chú rể trông tựa như là dệt bằng vàng bằng bạc.
Vua định lấy áo mặc thì bác Jôhannơt đẩy vua ra, lấy áo ném vào
lửa cho cháy.
Những tên hầu khác lại nhao nhao lên:
- Đấy, nó lại đốt cả cái áo lót cưới của vua.
Nhưng vua lại quở rằng:
- Jôhannơt hết sức trung thành của ta làm thế chắc có lý do,
chúng bay biết đâu.
Hôn lễ đã cử hành. Cuộc khiêu vũ bắt đầu, Công chúa sắp
nhảy. Bác Jôhannơt luôn luôn theo dõi nàng, bỗng thấy nàng tái đi
ngã lăn ra bất tỉnh. Bác vội chạy đến nâng nàng dậy và đem về
buồng đặt nàng lên giường. Rồi bác quì xuống mút ở ngực bên phải
của nàng ba giọt máu, nhổ đi. Công chúa hồi lại. Vua thấy vậy
không hiểu tại sao bác lại hành động như thế, nổi giận thét: "Giam
nó vào ngục".
Sáng hôm sau, bác bị kết án tử hình rồi bị đưa lên giá treo cổ.
Bác trèo hết bậc thang rồi nói:
- Trước khi bị xử tử, tội nhân nào cũng được phép nói, vậy thần
có được phép nói không?
- Được, ta cho phép.
- Thần đã bị xử oan, thần đã luôn luôn tận tụy với bệ hạ.
Rồi bác kể lại cho vua biết bác đã nghe thấy ở trên mặt bể ba
con quạ nói với nhau những gì và tại sao bác đã phải làm những
việc vừa qua để cứa chúa.
Vua bèn kêu lên:
- Tội nghiệp quá! Hãy tha cho Jôhannơt trung thành của trẫm.
Cho bác xuống.
Nhưng bác Jôhannơt vừa nói dứt lời thì ngã lăn ra hóa đá rồi.
Vua và hoàng hậu thấy thế buồn lắm.
Vua nói:
- Jôhannơt đã tận tụy với ta mà ta đã nỡ xử như thế ư!
Rồi vua sai khiêng tượng Jôhannơt vào buồng ngủ, đặt bên
giường mình. Mỗi lần trông thấy tượng, vua lại khóc mà nói:
- Jôhannơt trung thành ơi, ước gì ta làm cho ngươi sống lại
được.
Cách đó ít lâu, hoàng hậu đẻ sinh đôi. Hai đứa con trai lớn lên
là nguồn vui của mẹ. Một hôm, hoàng hậu đi lễ nhà thờ, hai con ở
nhà chơi gần bố. Bố lại ngắm bức tượng thở dài và nói:
- Jôhannơt trung thành của ta ơi, ước gì ngươi sống lại.
Bức tượng bỗng lên tiếng nói:
- Bệ hạ có thể làm trẫm sống lại, nếu bệ hạ chịu hy sinh cái gì
bệ hạ yêu quí nhất.
Vua nói:
- Trẫm sẽ vì ngươi mà hy sinh tất cả cái gì trẫm có ở trần gian.
Tượng đá nói:
- Nếu bệ hạ chịu tự tay chặt đầu hai Hoàng tử lấy máu bôi vào
thần thì thần sẽ sống lại.
Nghe nói, vua rùng mình, không dám tự tay giết con. Nhưng
vua lại nhớ đến ơn người bầy tôi trung thành đã vì mình mà chết,
bèn rút gươm chặt đầu hai con lấy máu bôi vào tượng thì quả là
tượng sống lại. Bác Jôhannơt lại khỏe mạnh tươi tắn đừng trước
vua. Bác tâu với vua:
- Bệ hạ ăn ở có thủy có chung, bệ hạ được hưởng phúc.
Rồi bác cầm lấy hai cái đầu lắp vào thân hai đứa bé, bôi máu
vào chỗ chặt. Hai đứa bé sống lại, chơi đùa chạy nhảy như trước.
Vua mừng lắm. Khi thấy hoàng hậu về, vua giấu bác Jôhannơt
và hai con vào một cái tủ lớn.
Hoàng hậu bước vào nói:
- Lúc nào thiếp cũng nghĩ đến "bác Jôhannơt trung thành" đã
vì chúng ta mà chịu nạn.
Vua bảo:
- Nàng có thể làm cho bác sống lại, nhưng phải chịu hy sinh hai
đứa con mình.
Hoàng hậu tái mặt đi, lòng se lại, nhưng rồi đáp:
- Bác Jôhannơt đã trung thành đối với mình, mình chịu ơn bác
nhiều lắm.
Vua thấy vợ mình cũng chung một ý nghĩ như mình, thích lắm,
đi mở tủ cho bác Jôhannơt và hai con ra và nói:
- Lạy Chúa, bác đã được giải thoát và hai con nhỏ của mình
sống lại.
Rồi vua kể cho hoàng hậu nghe sự việc vừa qua.
Từ đó, vua, hoàng hậu, hai Hoàng tử và bác Jôhannơt cùng vui
hưởng hạnh phúc suốt đời.
Câu chuyện ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của những con người
biết sống có tình, có nghĩa. Con người luôn vượt qua được những
khó khăn, cản trở nếu có tấm lòng cao thượng.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:36 | IP Logged Trích dẫn halong

Cuộc ngao du của tí hon


Một bác thợ may có đứa con trai, người chỉ bằng ngón tay cái,
vẫn gọi là Tí hon. Tí hon rất can đảm. Một hôm nó thưa bố:
- Bố ơi, con phải đi ngao du thiên hạ một phen mới được!
Ông bố già đáp:
- Được thôi, con ạ!
Bác lấy cái kim thêu, hơ lên ngọn nến, đính một cái núm bằng
xi vào đó rồi đưa cho con, bảo:
- Đây cho con thanh kiếm đi đường.
Tí hon còn muốn ăn với bố mẹ bữa nữa, nên nó nhảy xuống bếp
xem mẹ nó nấu gì. Nhưng nồi vừa mới đặt lên bếp, Tí hon hỏi mẹ:
- Mẹ ơi, có gì ăn thế?
Bà mẹ bảo:
- Con hãy ngó vào xem.
Nhảy tót lên bếp, vươn cổ dòm vào nồi. Nó vươn mãi cổ vào sâu
quá, hơi thức ăn bay nghi ngút cuốn luôn nó lên ống khói. Nó ngồi
ngất ngưởng trong đám hơi, cứ thế lơ lửng mãi trên không, lúc lâu
sau mới rơi xuống.
Thế là chú bé con bác thợ may có dịp đi ngao du thiên hạ. Chú
đi đây đi đó, rồi đến xin tập việc một người thợ cả. Nhưng ở đây họ
cho chú ăn chẳng được ngon. Chú nói với bà chủ nhà:
- Bà chủ ạ, bà không chịu cho tôi ăn khá hơn thì nhất định tôi
sẽ đi. Sáng mai tôi sẽ lấy phấn viết ngay trước cửa nhà:
Khoai khá nhiều, thịt khá ít,
Thưa đức vua khoai, tôi xin vĩnh biệt.
Bà chủ giận lắm, quát:
- Con chấu ranh kia, mày còn muốn gì hử?
Bà rút cái giẻ lau, định quất chú. Nhưng chú đã mau lẹ bò lên
cái bao ngón tay của bà, rồi từ trên đó chú dòm xuống, thè lưỡi nhạo
bà. Bà tháo bao định chộp chú thì chú lại tót sang cái giẻ mất rồi.
Thừa lúc bà giũ giẻ tìm chú, chú trốn luôn xuống kẽ bàn. Chú thò
đầu lên, giễu bà:
- Ê! Bà chủ ơi!
Lúc bà sắp đánh, chú lẩn xuống ô kéo. Nhưng rồi bà cũng tóm
được và tống chú ra khỏi cửa.
Tí hon lại đi lang thang. Đến cánh rừng kia, chú gặp kẻ trộm
đang bàn nhau đi ăn trộm của vua. Chợt thấy Tí hon, bọn kẻ trộm
sực nghĩ: "Thằng nhãi ranh này nhất định chui lọt lỗ khóa, có thể
dùng nó thay chìa khóa giả được đây".
Một tên gọi:
- Này, ông khổng lồ Gôliat ơi, có muốn nhập với bọn mình đến
kho của báu không? Ông có thể chui vào ném tiền ra cho bọn này.
Tí hon nghĩ một lát rồi bằng lòng nhận. Chú đi với chúng. Đến
nơi, chú ngắm kỹ cửa trên, cửa dưới xem có cái kẽ nào không. Tìm
hồi lâu thấy một khe hở, cũng khá rộng, đủ cho chú lọt qua. Chú đã
sắp chui vào thì bị một tên lính canh cửa nhìn thấy. Nó bảo tên kia:
- Xem kìa, có con nhện gớm ghiếc đương bò kia kìa. Tao phải
dẫm chết nó mới được!
Tên kia can:
- Thôi mặc nó, kẻo tội nghiệp. Nó có làm gì mày đâu!
Thế là Tí hon lọt được vào trong kho. Chú mở cửa sổ chỗ bọn kẻ
trộm đợi rồi nhặt tiền ném ra, cứ từng đồng một. Đương lúc mê mải
chợt có tiếng chân vua vào soát kho. Tí hon vội chuồn ngay. Vua
soát, biết là có nhiều đồng tiền dày đã bị mất nhưng không thể hiểu
kẻ nào đã lấy, vì lẽ then khóa vẫn y nguyên không có chút dấu hiệu
suy chuyển.
Vua đành ra lệnh cho hai tên lính:
- Bay phải coi chừng, có kẻ rình lấy tiền đấy!
Lúc Tí hon tiếp tục hoạt động thì bọn lính đứng ngoài rình
nghe thấy tiếng vàng rơi xủng xoẻng. Chúng vội nhảy vào kho để
bắt kẻ trộm. Nhưng Tí hon nhanh hơn, đã tót được vào một xó,
khuân một đồng tiền lấp lên mình. Chú trêu bọn lính:
- Tớ đây cơ mà!
Lúc bọn lính xô tới thì chú lại chuồn sang xó khác, léo nhéo gọi:
- Này, tớ đây cơ mà!
Bọn lính đến thì chú đã sang xó thứ ba từ lâu rồi. Chú lại gọi:
- Này, tớ đây kia mà!
Cứ thế, Tí hon dử cho hai tên lính chạy quanh đến mệt lử và
phải bỏ cuộc. Chú tiếp tục ném tiền ra ngoài cho bọn trộm hết đồng
này đến đồng khác. Còn lại đồng cuối, chú ra sức quăng mạnh, đoạn
nhảy liền theo, cưỡi tiền bay vút qua cửa sổ.
Bọn trộm hết lời tán tụng chú:
- Quả là tay anh hùng! Chú có muốn là chủ tướng không?
Tí hon cảm ơn. Chú nói, chú còn muốn đi ngao du thiên hạ đã.
Bọn trộm chia nhau số tiền. Tí hon chỉ lấy phần mình có một đồng,
vì có lấy nữa chú cũng chẳng mang nổi.
Chú buộc lại thanh kiếm bên sườn, chào bọn cướp rồi ra đi.
Chú đến nhà mấy bác thợ cả nữa xin làm. Nhưng ở đâu cũng chóng
chán. Sau cùng chú đến làm cho một quán trọ. Đám hầu gái nhà
này không ai ưa chú, chỉ vì họ không nhìn thấy chú, thế mà ai bí
mật làm gì chú đều biết hết. Chú lại hay mách chủ những chuyện
họ ăn uống vụng trộm, hoặc ăn cắp dưới hầm. Họ vẫn đe:
- Liệu hồn! Thế nào cũng có bữa cho mày chết đuối.
Họ bảo nhau xỏ Tí hon một vố. Một hôm, chú đương mải miết
nhảy nhót, leo trèo giữa đám cỏ dại ngoài vườn thì bị một cô hầu ra
cắt cỏ bắt gặp. Tiện tay cô vơ luôn cả Tí hon với cỏ, buộc túm vào
một cái khăn lớn rồi ném cho bò. Một con bò mộng đen nuốt chửng
Tí hon vào bụng. Chú không bị đau đớn gì nhưng nằm trong ấy thật
khó chịu quá, tối như bưng. Đợi lúc có người vào vắt sữa, chú ra sức
gào: Tơrip, torắp, torôn! Sắp đầy thùng chưa?
Tiếng sữa tia rào rào, át mất tiếng chú nên không ai nghe thấy.
Lát sau, chủ quán vào bảo:
- Mai thịt con bò này!
Tí hon sợ quá, lại gân cổ gào:
- Thả tôi ra đã, tôi ở trong này mà!
Chủ quán nghe thấy, nhưng không biết ai gọi ở đâu. Bác hỏi
lại:
- Ở đâu thế?
Tí hon vội đáp:
- Trong bụng con đen ấy mà!
Chủ quán không hiểu nghĩa câu nói, bỏ đi.
Sáng hôm sau, họ thịt con bò đen. Cũng may lúc họ hạ bò rồi xả
thịt, không có nhát dao nào chém phải Tí hon. Chú bị lẫn trong
đống thịt để tra dồi. Lúc người thợ băm dồi vào sắp làm, chú ra sức
bình sinh gào:
- Đừng băm sâu quá! Đừng băm sau quá! Tôi ở dưới đấy!
Nhưng vì dao băm đã gỗ rộn lên nên chẳng ai nghe được tiếng
chú gọi. Giờ mới thật nguy cho chú, nhưng thói thường có khó mới
ló cái khôn, chú nhảy tránh rất tài giữa các đường dao, khiến chẳng
một nhát nào chạm được vào người chú. Chú thoát chết. Tuy thế,
chú vẫn chưa nhảy ra ngoài được. Chú bị họ tra lẫn với miếng mỡ
vào một khoanh dồi tiết. Trong khoanh dồi chật chội quá, đã thế họ
lại còn mắc lên ống khói lò bếp để hun cho kỹ. Tí hon thấy thời gian
lúc này mới dài làm sao!
Nhưng rồi cũng đến mùa đông, họ tháo khoanh dồi xuống. Nhà
có khách, họ định đem dồi đãi khách. Lúc bà chủ thái dồi, sợ lưỡi
dao xoẹt ngang một nhát. Chờ lúc thuận lợi, chú lấy hơi nhảy tót ra
ngoài.
Chú không muốn ở lại nhà ấy nữa, nơi chú đã phải chịu bao
điều đen đủi. Tí hon lại đi giang hồ. Nhưng cuộc đời tự do của chú
cũng chẳng được bao lâu nữa. Chú đang lang thang giữa đồng thì
chạm trán phải một con cáo, nó đớp luôn chú. Chú vội van nài:
- Bác cáo ơi, tôi đấy mà, chả bõ cuống họng bác, chi bằng bác
thả tôi ra!
Cáo đáp:
- Mày nói cũng có lý. Ăn mày cũng như không ăn gì. Mày hứa
cho tao mấy con gà ở nhà bố mày đi, tao sẽ thả.
Tí hon đáp:
- Tôi rất sẵn lòng, nhà có bao nhiêu gà sẽ xin tạ bác hết.
Cáo bèn thả chú ra, lại thân đưa chú về nhà. Ông gặp lại con
mừng quá, nhà có bao nhiêu gà biếu cáo tất.
Tí hon đưa cho bố đồng tiền vàng mà chú đã kiếm được trong
chuyến đi vừa rồi.
- Con có đồng tiền rất đẹp để đến cho bố đây này. Nhưng sao bố
lại chịu để cáo nó thịt hết cả đàn gà con của nhà?
- Ôi, thằng ngốc! Con là đứa con đẻ đứt ruột của bố, lý nào bố
lại quí đàn gà ngoài sân hơn cả con trai.
Các em đã bao giờ phải xa bố mẹ chưa? Chắc là chưa đâu nhỉ!
Các em sẽ gặp rất nhiều rắc rối khi phải xa rời bố mẹ mình. Qua
câu truyện này các em học được một điều: không ở đâu sung sướng,
hạnh phúc hơn là được ở bên cạnh bố mẹ mình.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:36 | IP Logged Trích dẫn halong

Mười hai người thợ săn


Ngày xưa có một vị Hoàng tử yêu vợ chưa cưới tha thiết. Một
hôm, chàng đang ngồi bên nàng rất đỗi sung sướng thì nhận được
tin cha ốm sắp chết muốn gặp mặt chàng trước khi nhắm mắt.
Chàng liền bảo người yêu:
- Anh phải từ biệt em đi ngay. Anh tặng em chiếc nhẫn này
làm kỷ niệm. Mai sau anh lên ngôi vua rồi, anh sẽ trở lại đón em.
Chàng lên ngựa ra đi. Khi chàng về gặp vua cha thì vua ốm
thập tử nhất sinh sắp chết đến nơi. Vua cha phán:
- Con yêu dấu ạ. Cha muốn nhìn mặt con một lần cuối cùng
trước khi chết. Con phải hứa với cha là sau khi cha chết đi, con sẽ
lấy vợ theo ý muốn của cha.
Rồi vua cho chàng biết tên một nàng công chúa mà chàng phải
lấy làm vợ. Trong lúc choáng váng cả người, Hoàng tử không suy
nghĩ gì, chỉ thưa:
- Thưa cha, con sẽ làm theo như ý cha.
Nhà vua, nhắm mắt từ trần.
Hoàng tử lên ngôi vua. Hết thời gian tang lễ chàng phải giữ lời
hứa với cha cho đi hỏi nàng công chúa ấy và được nàng nhận lời.
Người vợ chưa cưới đầu tiên của chàng được tin đó buồn bao vì bị
phụ tình ốm suýt chết.
Cha nàng liền hỏi nàng:
- Con yêu dấu, làm sao con buồn rầu thế? Con ước muốn gì, cha
cũng cho.
Nàng nghĩ một lúc rồi nói:
- Thưa cha, con mong ước có mười một thiếu nữ từ mặt mũi,
hình dáng, vóc người đều giống con y hệt.
Vua cha nói:
- Nếu là điều có thể làm được thì điều ước của con nhất định sẽ
thành sự thật.
Vua sai người đi tìm trong khắp nước kỳ cho đến khi được đủ
mười một thiếu nữ giống con gái mình y hệt, từ mặt mũi hình dáng,
đến khổ người.
Khi các thiếu nữ có đến trước công chúa, nàng cho may mười
hai bộ quần áo đi săn y hệt nhau, cho mười một cô mặc vào, chính
nàng cũng mặc một bộ. Sau đó, nàng từ biệt vua cha, cùng họ lên
ngựa đi đến triều đình của người chồng chưa cưới cũ mà nàng đã
yêu tha thiết.
Nàng đến hỏi xem nhà vua có cần thợ săn và có muốn mượn cả
mười hai người không?
Vua nhìn nàng nhưng không nhận ra được. Vua thấy họ đẹp
quá nên đồng ý mượn cả. Thế là họ thành mười hai người thợ săn
của nhà vua.
Nhà vua vốn có một con sư tử. Đó là con vật kỳ lạ biết hết mọi
điều bí ẩn. Một buổi tối nó nói với nhà vua:
- Bệ hạ đinh ninh là có mười hai người thợ săn phải không?
Vua bảo:
- Đúng, đó là mười hai người thợ săn.
Sư tử lại nói tiếp:
- Bệ hạ lầm rồi, đó là mười hai thiếu nữ đấy.
Vua đáp:
- Nhất định không đúng. Người làm thế nào chứng minh được
việc ấy!
Sư tử đáp:
- Ồ dễ thôi, bệ hạ chỉ việc rải đỗ vào phòng thì biết ngay. Đàn
ông bước mạnh nên khi giẫm lên đỗ thì không hạt nào động đậy,
nhưng phụ nữ bước thì thoăn thoắt lại hay xoay chân, hạt đỗ sẽ lăn
đi.
Vua khen là kế hay, cho rắc hạt đỗ.
Nhưng có người hầu nhà vua có lòng tốt đối với những người
thợ săn, nghe thấy nói nhà vua nhất định thử họ, liều đi kể cho biết
hết và bảo:
- Sư tử nó muốn mách nhà vua rằng các người là gái cả đấy.
Công chúa cảm ơn bác ta rồi bảo các cô thiếu nữ:
- Các em cố sức giẫm mạnh lên các hạt đỗ nhé.
Sáng hôm sau nhà vua truyền mười hai người thợ săn đến
phòng có rải hạt đỗ. Các cô thiếu nữ cố giẫm thật mạnh, bước đi của
họ khỏe và chắc đến nỗi không một hạt đỗ nào lăn hoặc chuyển
động, sau khi họ đi khỏi, nhà vua bảo sư tử:
- Mày đánh lừa tao rồi, chúng đi chắc bước, đó là đàn ông.
Sư tử đáp:
- Vì biết là bị thử thách nên họ đã gắng đi cho chắc bước. Bệ
hạn cứ để mười hai chiếc guồng kéo kéo sợi vào phòng, họ sẽ mừng
rỡ và xán lại ngay, đàn ông thì không bao giờ thế.
Nhà vua cho là kế hay, bèn sai để guồng kéo sợi vào phòng.
Nhưng người hầu vốn thật thà với những người thợ săn, đến
nói lộ cho họ biết hết mưu kế. Công chúa bảo riêng mười một thiếu
nữ: "Các em cố nhịn đừng có ngó tới guồng kéo sợi nhé". Sáng hôm
sau vua cho triệu mười hai người thợ săn đến, họ vào phòng không
chú ý gì đến guồng sợi.
Vua lại bảo sư tử:
- Mày đánh lừa tao. Đúng là đàn ông rồi, vì chúng không nhìn
gì đến guồng kéo sợi.
Sư tử đáp:
- Họ biết là bị thử thách nên cố nhịn đấy.
Nhưng vua nhất định không tin sư tử nữa.
Ngày nào mười hai người thợ săn cũng theo vua đi săn, càng
ngày vua càng yêu quí họ. Một hôm trong khi họ đi săn, thì được tin
vợ chưa cưới của nhà vua sắp tới. Người vợ chưa cưới chính thức
nghe vậy đâu khổ quá. Tim bị nhói lên ngã lăn xuống đất bất tỉnh
nhân sự.
Vua tưởng là người thợ săn yêu quí của mình bị làm sao vội
chạy lại cứu... Vua lại tháo bao tay ấy thì thấy chiếc nhẫn mình đã
tặng cho người vợ chưa cưới thứ nhất. Vua nhìn mặt nhận ra nàng.
Lòng vua hồi hộp, vua hôn nàng lúc nàng mở mắt, vua bảo:
- Em là của anh, anh là của em. Thiên hạ không ai thay đổi
được điều ấy.
Vua phái sứ giả đến gặp người vợ chưa cưới kia xin nàng quay
về nước vì vua đã có vợ rồi. Ai đã tìm thấy chiếc chìa khóa cũ thì
không cần đến chiếc mới nữa.
Sau đó hôn lễ được cử hành. Sư tử được tha tội, vì quả là nó nói
đúng sự thật.
Câu truyện ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người con gái và tình
yêu bất diệt. Với tình yêu chân chính, con người luôn tìm được hạnh
phúc dài lâu.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:37 | IP Logged Trích dẫn halong

Ba sợi tóc vàng của quỷ


Ngày xưa, ở một làng kia, có một người đàn bà nghèo sinh được
một đứa con trai. Khi nó ra đời, người ta tiên tri là năm mười bốn
tuổi, nó sẽ lấy được công chúa. Vào lúc đó, nhà vua vi hành qua
làng, không một ai biết. Vua hỏi trong làng có sự gì lạ không, thì
dân làng tâu:
- Gần đây có một đứa trẻ mà người ta tiên tri là năm mười bốn
tuổi, nó sẽ lấy được công chúa.
Nhà vua vốn độc ác nghe nói như vậy tức lắm, liền đến ngay
nhà bố mẹ đứa trẻ, giả vờ thân mật bảo:
- Các bác nghèo khó, hãy giao con cho tôi để tôi chăm sóc nó
cho.
Hai vợ chồng nhà kia trước con từ chối, sau thấy người lạ mặt
đưa cho nhiều vàng, nghĩ bụng: "Con mình là đứa tốt số. Như thế
lại hay cho nó", nên cuối cùng bằng lòng trao con.
Vua đặt đứa trẻ vào một cái hòm, cưỡi ngựa tới một chỗ nước
sâu, ném hòm xuống, nghĩ thầm: "Thế là con gái ta thoát khỏi tay
anh chàng rể bất đắc dĩ này".
Nhưng cái hòm không chìm, cứ nổi như một chiếc tàu nhỏ,
nước không thấm vào một giọt. Hòm trôi lềnh bềnh cách kinh kỳ
hai dăm, đến cửa cổng một cối xay thì bị mắc lại. May lúc đó có
thằng bé xay bột trông thấy, lấy móc kéo vào. Nó tưởng trong có
của, nhưng khi mở ra thì thấy một đứa bé khỏe mạnh, khôi ngô. Nó
mang đứa trẻ về cho chủ. Hai vợ chồng này không có con, nên mừng
lắm.
Họ hết sức chăm sóc, đứa bé hay ăn chóng lớn.
Một hôm, tình cờ vua vào nhà xay để tránh mưa. Vua hỏi vợ
chồng người xay bột có phải gã thanh niên cao lớn là con trai họ
không.
Họ đáp:
- Tâu bệ hạ không phải, đó là đứa trẻ nhặt được cách đây mười
bốn năm. Nó nằm trong một cái hòm trôi dạt tới cửa cổng, thằng bé
xay bột nhà chúng tôi đã vớt nó lên.
Vua nghĩ thầm chắc là đứa bé tốt số mà mình đã vứt xuống
nước trước kia, bèn nói:
- Này ta muốn nhờ gã này mang một lá thư đến cho hoàng hậu,
có được không? Ta sẽ thưởng cho hai đồng vàng.
Bố mẹ nuôi vâng lệnh bảo gã chuẩn bị đi.
Vua viết thư cho hoàng hậu nói: "Khi gã thanh niên mang thư
này đến, thì giết nó ngay và chôn nó đi. Phải thi hành mệnh lệnh
này trước khi ta về".
Chàng thanh niên cầm thư lên đường, nhưng đi lạc đến một
khu rừng to. Trong đêm tối, chàng thấy một ánh đèn, lại gần thì là
một cái nhà nhỏ.
Chàng vào nhà thấy một bà lão ngồi một mình bên bếp lửa. Bà
lão thấy chàng, hoảng sợ hỏi:
- Con ở đâu đến? Con đi đâu?
- Con ở nhà xay đến. Con phải mang thư đến cho hoàng hậu,
nhưng bị lạc trong rừng. Con muốn xin ngủ lại đêm nay ở đây.
- Tội nghiệp! Con lạc vào nhà kẻ cướp rồi. Chúng về thì chúng
sẽ giết con.
- Thôi, muốn ra sao thì ra. Cháu chẳng sợ. Vả lại cháu mệt quá,
không đi được nữa đâu.
Chàng nằm lên ghế dài ngủ.
Lát sau bọn cướp về, tức giận hỏi gã thanh niên nào ngủ đó.
Bà lão nói:
- Trời ơi! Thằng bé có tội tình gì đâu! Nó lạc vào rừng, tôi
thương tình cho nó vào đây. Nó phải mang thư cho hoàng hậu đấy.
Bọn cướp bóc dấu niêm phong thư thấy nói là phải giết ngay
người mang thư này. Bọn cướp tuy nhẫn tâm mà cũng động lòng,
tên tướng cướp xé tan lá thư đó, viết lá thư khác đại ý nói phải gả
công chúa ngay cho chàng thanh niên mang thư này đến. Họ để cho
chàng ngủ yên đến sáng. Sáng hôm sau, họ giao thư cho chàng và
chỉ đường cho đi.
Hoàng hậu nhận được thư, theo lệnh tổ chức đám cưới linh
đình, gả công chúa cho chàng tốt số.
Chú rể đẹp trai và tốt nết, công chúa sống với chồng hạnh phúc
lắm.
Sau đó ít lâu, vua về, thấy lời tiên tri đã thành sự thật, đứa bé
tốt số đã lấy con mình, bèn nói:
- Chẳng hiểu sao lại thế, trong thư ta ra lệnh khác cơ mà.
Hoàng hậu lấy thư đưa vua xem. Vua thấy thư đã bị đánh tráo,
bèn hỏi con rể thư cũ đâu, sao lại đánh tráo thư khác.
Chàng đáp:
- Tâu bệ hạ, con không biết. Chắc ban đêm con ngủ trong rừng,
thư đã bị đánh tráo.
Vua tức giận nói:
- Như thế không ổn. Muốn lấy con ta thì phải xuống âm phủ
nhổ ba sợi tóc vàng của con quỉ đem về nộp ta. Nếu người làm nổi
thì vẫn được phép làm chồng con ta.
Vua định làm như thế để tống khứ chàng thanh niên đi.
Nhưng chàng đáp:
- Con không sợ quỉ, con sẽ lấy được tóc vàng về.
Chàng bèn cáo từ vua ra đi.
Khi chàng đến một thành phố lớn, lính canh hỏi chàng làm
nghề gì và biết những gì.
Chàng đáp:
- Gì cũng biết.
Lính canh nói:
- Thế anh bảo giùm chúng tôi tại sao giếng ở chợ chúng tôi
trước kia luôn chảy ra rượu vang, mà nay lại cạn hẳn đi, đến một
giọt nước cũng không còn.
Chàng nói:
- Chờ khi tôi về, tôi sẽ bảo cho biết.
Chàng lại đi, đến một thành phố khác. Lính canh cũng hỏi
chàng làm nghề gì và biết những gì.
Chàng lại đáp:
- Gì cũng biết.
Lính canh nói:
- Thế anh bảo giùm chúng tôi biết tại sao trong thành chúng tôi
có cây táo trước kia ra quả vàng mà nay đến một chiếc lá cũng
không còn?
Chàng lại đáp:
- Chờ tôi về, tôi sẽ cho biết.
Chàng lại đi, đến một con sông lớn.
Người lái đò hỏi chàng làm nghề gì và biết những gì.
Chàng đáp:
- Gì cũng biết.
Người lái đò nói:
- Thế anh bảo giùm tôi biết tại sao tôi cứ phải chở đò qua lại
trên khúc sông này không có ai thay.
Chàng đáp:
- Để khi trở về tôi sẽ bảo cho biết.
Qua sông đến bến, chàng thấy cửa âm phủ tối om, ám khói.
Con quỉ đi vắng. Ở nhà chỉ có một bà già ngồi trong một chiếc ghế
bành rộng. Bà không có vẻ ác. Bà hỏi:
- Cháu muốn g´?
- Cháu muốn lấy ba sợi tóc của con quỉ, nếu không thì mất vợ.
- Kể thì quá đấy. Nếu con quỉ về mà thấy cháu ở đây thì chắc
chắn là cháu mất đầu. Nhưng thôi, ta thương hại cháu, để xem có
cách nào giúp cháu không.
Bà làm phép cho chàng biến ra kiến và bảo:
- Cháu hãy bò vào trong áo ta thì mới toàn tính mệnh được.
- Vâng, quí hóa quá, nhưng con còn muốn biết ba điều:
"Một là tại sao giếng nước trước kia chảy ra rượu vang, nay
bỗng cạn hẳn, không còn một giọt nước?
Hai là tại sao cây táo kia trước có quả táo vàng mà giờ không
có đến một cái lá?
Ba là tại sao bác lái đò kia cứ phải chở đò mãi, không có ai
thay".
Bà già nói:
- Ba câu hỏi này khó thật, nhưng cháu cứ yên tâm, lắng tai
nghe con quỉ nói khi ta nhổ ba sợi tóc vàng của nó nhé.
Đến tối con quỉ về nhà. Vừa vào cửa, nó đã ngờ ngợ thấy mùi gì
lạ. Nó nói:
- Quái, ta ngửi như có mùi thịt người ở đây, có phải không?
Bà lão chế nó:
- Tôi vừa quét dọn ngăn nắp, bây giờ anh lại lục tung cả ra. Lúc
nào mũi anh cũng chỉ ngửi thấy mùi thịt người. Thôi ngồi xuống ăn
đi.
Ăn uống xong, con quỉ thấy mền mệt, tựa đầu vào gối bà già và
bảo bà bắt chấy cho. Được một lát, nó thiu thiu ngủ rồi ngáy khò
khò. Bà già nhổ một sợi tóc vàng của nó, để bên mình.
Con quỉ hỏi:
- Ái chà, bà làm gì thế?
Bà lão nói:
- Tôi mộng thấy sự không lành, nên tôi đã nắm tóc anh đấy.
Con quỉ hỏi:
- Bà mộng thấy gì?
- Tôi nằm mộng thấy giếng ở chợ trước kia thường chảy ra rượu
vang, nay cạn hẳn, đến một giọt nước cũng không còn? Tại sao thế?
Con quỉ đáp:
- Chà! Nếu biết thì đã chẳng nên chuyện. Dưới tảng đá ở đáy
giếng có một con cóc. Đem giết nó đi thì rượu vang lại chảy ra.
Bà lão lại bắt chấy cho con quỉ. Quỉ lại ngủ, Ngáy rung cả cửa
kính. Bà già lại nhổ một sợi tóc nữa.
Quỉ cáu, nói:
- Ô hay, làm gì thế?
Bà lão đáp:
- Anh đừng giận nhé, tôi lại mộng đấy mà.
- Lại mộng gì nữa thế?
- Tôi thấy ở một nước nọ có một cây táo trước kia thường vẫn ra
quả vàng mà nay đến một cái là cũng chẳng còn. Tại sao thế?
- Chà! Nếu biết thì đã chẳng nên chuyện. Có một con chuột
nhắt gặm rễ cây. Giết nó đi thì cây lại ra quả vàng. Nếu để chuột
gặm mãi thì cây đến chết mất. Nhưng thôi, đừng có mơ mộng gì nữa
nhé, để cho tôi ngủ yên, nếu còn làm tôi thức giấc, tôi sẽ tát cho
đấy.
Bà lão dỗ dành con quỉ, rồi lại bắt chấy cho nó. Nó lại ngủ và
ngáy. Bà nhổ sợi tóc vàng thứ ba của nó.
Con quỉ chồm dậy, kêu lên và toan đánh bà, nhưng bà lại nói
ngọt rằng:
- Khốn nỗi cứ mộng mãi thì biết làm thế nào?
Con quỉ tò mò hỏi:
- Bà còn mộng thấy gì nữa?
- Tôi chiêm bao thấy có một người lái đò than phiền là cứ phải
chở đò qua lại mãi mà không có người thay. Tại sao thế?
Quỉ đáp:
- Ngốc quá. Nếu có ai muốn qua sông, thì hắn chỉ việc trao mái
chèo cho người ấy là thoát, và người kia sẽ chở đò thay hắn thôi.
Sau khi đã nhổ ba sợi tóc vàng của con quỉ và đã được nghe nó
trả lời ba lần, bà già để cho nó ngủ đến sáng.
Con quỉ bước chân ra khỏi cửa, thì bà liền bắt con kiến ở trong
nếp áo bà ra, hóa phép biến nó lại thành người.
Bà lão nói:
- Đây ba sợi tóc vàng đây, còn ba câu trả lời của con quỉ thì
cháu nghe được rõ rồi chứ?
Chàng đáp:
- Vâng, cháu đã nghe rõ rồi, cháu sẽ nhớ kỹ.
Bà lão bảo:
- Thôi thế mày thoát rồi nhé. Lên đường về được rồi đấy.
Chàng cảm ơn bà lão đã giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn.
Chàng đi khỏi âm phủ, Trong lòng phấn khởi vì mọi việc đều được
như ý.
i chàng gặp bác lái đò, bác xin chàng giải đáp cho như chàng đã
hứa.
Chàng tốt số nói:
- Bác hãy chở tôi sang bờ bên kia, tôi sẽ bảo bác cách giải thoát.
Tới bờ, chàng cho bác biết câu trả lời của con quỉ:
- Nếu có người muốn qua sông thì bác chỉ việc đặt mái chèo vào
tay người ấy rồi đi.
Chàng lại lên đường, đến thành phố có cây trụi quả. Lính canh
cũng đang chờ chàng giải đáp. Chàng nhắc lại lời của con quỉ:
- Giết con chuột nhắt gặm rễ cây đi, thì cây lại ra quả táo vàng.
Họ cám ơn chàng và biếu chàng hai con lừa tải nặng vàng.
Sau cùng, chàng đến thành phố có giếng cạn. Chàng cũng nhắc
lại lời con quỉ:
- Có một con cóc ngồi dưới hòn đá ở đáy giếng, phải tìm nó giết
đi, thì rượu vang lại chảy ra nhiều.
Lính canh cảm ơn chàng và cũng tặng chàng hai con la trở
nặng vàng.
Chàng về tới nhà; vợ chàng vui mừng khôn xiết, vì lại trông
thấy mặt chồng và thấy chồng đi gặp được mọi việc đều như ý.
Chàng dâng vua ba sợi tóc vàng của con quỉ. Vua thấy bốn con
la tải nặng vàng, mừng lắm, nói:
- Nay con đã làm xong mọi việc ta giao cho, thì con vẫn được
lấy con gái ta. Này con, con lấy đâu ra nhiều vàng thế? Thật là một
kho tàng vô giá!
- Con lấy ở bên kia sông, đó là cát trên bờ.
Vua tham lam, hỏi:
- Ta có lấy được không?
Chàng rể đáp:
- Bẩm muốn lấy bao nhiêu cũng được ạ. Bệ hạ bảo người chở đò
đưa sang bờ bên kia thì tha hồ lấy.
Ông vua tham lam kia vội lên đường ngay. Đến bờ sông, vua ra
hiệu cho bác chở đò đưa qua sông.
Người lái đò mời vua xuống thuyền. Khi sang đến bờ bên kia,
bác đặt mái chèo vào tay vua rồi nhảy lên bờ. Thế là ông vua, vì
tham của mà chịu tội thành anh lái đò.
- Thế vua còn trèo đò nữa không?
- Sao! Thì đã có ai cầm mái chèo cho nhà vua đâu!
Các em vừa được đọc một câu truyện thật là hấp dẫn. Chàng
trai trong truyện có xứng đáng làm Vua của một nước sau khi ông
Vua tham lam và độc ác trở thành người lái đò không? Chàng là
một con người dũng cảm, nhân hậu và có trái tim tràn ngập tình
yêu nên chàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc, đúng không nào?

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:37 | IP Logged Trích dẫn halong

Mèo làm thân với chuột


Mèo làm thân với chuột. Mèo kể lể tâm tình tha thiết, chuột
nghe bùi tai đồng ý ăn ở chung với mèo.
Mèo bảo:
- Ta phải đề phòng mùa rét kẻo rồi bị đói. Chú mày chớ có đi lại
liều lĩnh kẻo rồi mắc bẫy đấy.
Chuột nghe lời. Chúng đi mua một niêu mỡ nhưng không biết
cất đâu. Suy nghĩ mãi, mèo bảo:
"Anh thấy chẳng còn nơi nào cất tốt bằng ở nhà thờ vì ở đấy
không ai dám lấy gì đi. Cánh ta đem cất niêu dưới gầm bàn thờ,
chưa cần mỡ thì ta nhất định không rờ đến".
Thế là chúng cất niêu thật kỹ. Nhưng chẳng bao lâu mèo ta
thèm mỡ, nói với chuột:
- Chú chuột ạ, anh muốn nói với chú điều này. Anh có người chị
họ mời đến làm bố đỡ đầu cho cháu. Chị ấy sinh được con trai, lông
trắng đốm nâu, anh phải đi dự lễ đỡ đầu. Hôm nay anh đi, chú ở
nhà trông coi nhà cửa một mình nhé.
Chuột đáp:
- Vâng vâng, lạy Chúa ban phước lành cho anh đi, có miếng
ngon, anh nhớ lấy phần về cho em nhé. Em ao ước được nhắp rượu
vang đỏ ngọt.
Nhưng tất cả những điều mèo nói đều sai cả. Mèo chẳng có chị
em họ nào, mà cũng chẳng có ai mời đến làm lễ đỡ đầu. Nó đến
thẳng nhà thờ, lén đến niêu mỡ, ăn xong liếm lông cho sạch mỡ. Rồi
nó dạo chơi trên mái nhà thành phố, nhìn quanh quẩn, nằm ườn
sưởi nắng, mỗi lần nhớ đến niêu mỡ lại chùi mép. Mãi đến chiều nó
mới về nhà.
Chuột nói:
- Thế nào, anh đã về đấy à? Chắc là cả ngày nhởn nhơ vui thú
lắm nhỉ?
- Ừ thú lắm.
Chuột hỏi:
- Đứa trẻ đặt tên đỡ đầu là g´?
Mèo đáp gọn thon lỏn:
- "Liếm sạch lông".
Chuột reo lên:
- Sao lại là "Liếm sạch lông". Thật là một cái tên lạ lùng, hiếm
có. Trong họ anh, tên ấy có thông thường không?
Mèo nói:
- Có gì lạ đâu! Tên ấy cũng không có gì xấu hơn tên "Ăn cắp
vặt" là tên đỡ đầu của chú?
Cách đó ít lâu, mèo lại nổi cơn thèm, nói với chuột:
- Chú làm ơn giúp anh nhé. Nhờ chú trông nom nhà cửa một
mình chuyến nữa. Anh lại có người mời đi làm bố đỡ đầu lần thứ
hai. Đứa trẻ có vòng lông trắng quanh cổ, anh không tiện từ chối.
Chuột tốt bụng, nhận lời. Mèo kín đáo đi đến nhà thờ ăn thêm
một nửa niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Không gì ngon hơn là ăn một
mình", và lấy làm thú vị về việc làm ngày hôm đó. Khi về nhà,
chuột hỏi:
- Thế nào anh, tên đỡ đầu của đứa trẻ là gì?
Mèo đáp:
- "Hết một nửa"
- Sao lại "Hết một nửa"? Anh nói gì thế? Từ thủa cha sinh mẹ
đẻ, em chưa nghe thấy tên ấy bao giờ. Em cuộc là tên ấy không có ở
trong lịch sử.
Sau đó ít lâu, nghĩ đến mỡ, mèo lại thèm nhỏ dãi. Nó liền bảo
chuột:
- Quá tam ba bận. Anh lại phải đứng ra làm bố đỡ đầu. Đứa trẻ
đen tuyền. Trừ chân trắng, không có một sợi lông trắng nào trên
người, thật là mấy năm mới có một lận sinh thế. Chú mày để anh đi
nhé!
Chuột đáp:
- "Liếm sạch lông", "Hết một nửa", tên gì mà quỉ quái thế, em
cứ suy nghĩ mãi đấy.
Mèo nói:
- Chú cứ ru rú xó nhà với cái áo lông màu xám thẫm và cái đuôi
dài mà nghĩ lẩn thẩn. Ấy chẳng qua là tại cả ngày không chịu đi ra
ngoài đấy thôi!
Trong khi mèo đi vắng, chuột dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp. Mèo
háu ăn chén sạch niêu mỡ. Nó nghĩ bụng: "Chỉ chén kỳ hết mới yên
tâm". Mãi đến đêm, nó mới về nhà, no nứt bụng. Chuột hỏi luôn tên
đứa trẻ được rửa tội là gì. Mèo đáp:
- Chắc là chú không vừa lòng đâu! Tên nó là "Hết sạch".
Chuột kêu:
- "Hết sạch", thật là một tên lạ lùng. Em chưa đọc thấy tên ấy
bao giờ. "Hết sạch" thế là nghĩa lý gì nhỉ?
Nó lắc đầu, nằm cuộn tròn người lại ngủ.
Từ đó trở đi, chẳng có ai đến mời mèo đi làm bố đỡ đầu nữa.
Nhưng khi mùa đông tới, ra ngoài đồng không kiếm được gì ăn nữa,
chuột mới nghĩ đến thức ăn để dành:
- Anh mèo ạ, ta đi tìm niêu mỡ để dành đi, chắc là ngon lắm
đấy.
Mèo đáp:
- Được. Hẳn chú sẽ thấy ngon lắm, ngon như thể lưỡi liếm
không khí ấy mà!
Chúng ra đi, tới nơi thì thấy niêu vẫn còn nguyên chỗ cũ nhưng
chỉ có niêu không.
Chuột bảo:
- Thì ra thế, bây giờ tôi mới hiểu các việc đã xảy ra. Bây giờ mới
rõ anh thật là bạn tốt. Anh đã đánh chén hết. Anh làm cha đỡ đầu
như thế đấy: Lần đầu "Liếm sạch lông", lần sau "Hết một nửa",
rồi...
Mèo hét lên:
- Câm mồm ngay. Mày còn nói tiếng nữa là tao ăn thịt mày
đấy.
Tội nghiệp con chuột không k´m được tiếng:
- "Hết sạch".
Vừa nói buông miệng thì mèo đã vồ nó nuốt chửng.
Bạn xem đấy, tình đời là thế đấy!
Các em có những suy nghĩ gì về câu chuyện này? Mèo xấu tính,
tán tận lương tâm hay chuột khờ dại? Nói thế nào cũng đều đúng
cả. Ai đời chuột lại chơi với mèo. Các em có bao giờ nghe câu nói:
“Chọn bạn mà chơi chưa"? Trong cuộc đời có nhiều người tốt nhưng
cũng lắm kẻ xấu. Nếu các em kết bạn với kẻ xấu thì các em sẽ nhận
được hậu quả như con chuột trong truyện đấy!

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:38 | IP Logged Trích dẫn halong

Hai anh em


Xưa có hai anh em, anh thì giàu mà em thì nghèo. Người anh
giàu có làm nghề thợ vàng, tính vốn ác nghiệt. Người em tết chổi
bán kiếm tiền ăn, tính tình hiền hậu ngay thật. Người em có hai
con, đẻ sinh đôi giống nhau như hai giọt nước. Hai đứa bé thỉnh
thoảng vẫn lui tới nhà bác để hòng kiếm thức ăn thừa.
Một bữa kia, người em vào rừng đốn củi bỗng thấy có con chim
toàn vàng, xưa nay anh chưa từng thấy. Anh nhặt một viên sỏi
ném, may trúng chim, nhưng chỉ rụng có một chiếc lông vàng còn
chim bay mất. Anh lại nhặt cái lông mang về cho người anh. Gã
nhìn rồi bảo: "Vàng thật đấy" rồi gã trả tiền cho em.
Bữa sau, người em trèo lên một gốc bạch dương định chặt lấy
mấy cành, tình cờ lại thấy con chim hôm trước bay đi. Anh tìm một
lát thấy tổ chim, trong có quả trứng vàng. Anh nhặt trứng đem về
cho người anh, gã lại bảo: "Vàng thật đấy" và trả tiền cho em.
Sau rốt, gã thợ vàng bảo: "Ta muốn có cả con chim kia!"
Người em vào rừng lần thứ ba lại thấy con chim đang đậu trên
cây. Anh nhặt đá ném nó rơi xuống, đoạn xách nó về cho người anh,
được gã trả cho một nắm vàng. Anh nghĩ bụng: "Giờ thì ta có thể
sống đàng hoàng rồi đấy". Anh hài lòng lắm, ra về.
Gã thợ vàng vốn là tay tinh quái, ranh mãnh nên gã thừa biết
con chim kia đáng giá bao nhiêu rồi. Gã gọi vợ, bảo: "Hãy mang
quay con chim vàng này cho tôi, nhớ chú ý đừng để mất đi tí gì nhé,
tôi muốn ăn một mình tất cả".
Con chim này đâu có phải giống chim thường. Nó vốn thuộc
một loài rất lạ. Ai ăn được tim gan nó trong vòng mười năm, cứ mỗi
sáng lật gối lên sẽ có một đồng vàng. Người vợ mổ chim xong, cắm
vào một cái xiên bỏ lò quay. Lát sau, chị ta có việc cần đi ra ngoài.
Tình cờ giữa khi ấy, hai đứa nhỏ con người em chạy vào bếp đứng
xem quay chim. Chúng nó xoay cái xiên đi, lại mấy vòng. Thấy hai
miếng gì nho nhỏ rơi từ trong bụng chim xuống lòng chảo, một đứa
bảo: "Ta ăn tí đi, em đói lắm, chẳng ai biết đâu mà sợ". Mỗi đứa
nhặt ăn một miếng. Đang ăn bỗng người đàn bà trở vào thấy rõ
chúng nhai mới hỏi: "Bay ăn gì thế?".
Hai đứa đáp: "Có vài miếng từ bụng chim rơi xuống bác ạ".
"Tim gan nó đấy mà!". Người đàn bà hãi quá. Để chồng khỏi
thấy thiếu mà nổi nóng, chị vội thịt ngay một con gà, moi tim gan
ra bù vào chỗ thiếu ở con chim vàng. Chim chín rồi, chị mang lên
cho chồng. Gã ngốn tất một mình, không còn sót lại lấy một miếng.
Sớm hôm sau, lúc luồn tay xuống dưới gối, gã cứ đinh ninh sẽ được
một đồng vàng nhưng gã chẳng thấy gì hết.
Còn hai đứa nhỏ, chúng không ngờ vận may đã đến với chúng.
Sớm hôm sau, lúc chúng thức giấc, bỗng có vật gì rơi xuống đất,
tiếng kêu lanh lảnh. Chúng nhặt lên, té ra là hai đồng vàng. Chúng
vội đem vào cho bố. Anh ta ngạc nhiên lắm, cứ tự hỏi: "Đầu đuôi thế
nào đây nhỉ?".
Nhưng rồi sáng hôm sau lại được hai đồng vàng nữa và cứ thế.
Anh ta bèn tìm người anh và kể cho anh nghe câu chuyện lạ. Gã
thợ vàng hiểu ngay ra thế nào rồi, chắc hai đứa bé đã xơi mất cỗ
tim gan trong con chim vàng của gã. Vốn tính tham lam cay nghiệt,
để báo thù, gã mới dọa em: "Các cháu nó rỡn với quỷ rồi đấy! Chú
chớ có lấy vàng và cũng chẳng nên cho chúng ở nhà nữa. Quỷ đã ám
chúng và có thể sẽ còn hại cả chú nữa".
Người em nghe nói sợ lắm, nên mặc dù trong lòng đau như cắt,
anh đành dắt hai con vào rừng, và ngậm ngùi bỏ con lại đó.
Hai đứa trẻ quanh quẩn mãi trong rừng mà chẳng tìm được lối
về, chúng bị lạc càng sâu hơn. Sau gặp một người đi săn hỏi chúng:
"Các cháu là con cái nhà ai thế?".
Chúng đáp: "Chúng cháu là con người tết chổi nghèo". Chúng
kể cho người đi săn biết chuyện cha chúng không muốn giữ chúng ở
nhà chỉ vì sáng nào ở dưới gối của chúng cũng có một đồng tiền
vàng. Người đi săn bảo: "Được, có gì khó khăn đâu, chỉ miễn là các
cháu cứ ở cho ngay thật và chớ làm biếng".
Người đi săn tốt bụng này vốn không có con. Thấy hai đứa trẻ
dễ thương, anh đưa luôn chúng về nhà mình và bảo: "Ta nuôi các
cháu làm con". Anh truyền cho chúng nghề thợ săn và cất hộ chúng
những đồng vàng mà sáng chúng vẫn được, để sau này dùng tới.
Khi hai đứa trẻ đã lớn rồi, một hôm bố nuôi mới dắt cả hai vào
rừng và bảo: "Bữa nay, các con phải bắn thử để ta còn làm lễ cho
các con chính thức vào nghề". Ba người vào chỗ ẩn nhưng họ đợi
mãi chẳng thấy con thú nào mò tới. Bác thợ săn mới ngẩng đầu lên
nhìn bắt gặp đàn vịt trời trắng như tuyết đang xếp theo hình tam
giác bay qua. Bác bảo con lớn: "Thử hạ mỗi góc một con coi nào?".
Người con lớn bắn và đạt được đúng như đúng lời bố dặn. Lát sau
lại có đàn nữa bay tới, lần này chúng xếp thành hình số hai. Bác lại
bảo con thứ hai thử hạ mỗi góc một con. Anh chàng này bắn cũng
đạt. Bố nuôi bảo: "Ta tuyên bố là kể từ nay, các con chính thức vào
nghề". Tiếp đó, hai anh em đưa nhau vào rừng bàn bạc và nhất trí
với nhau điều gì đó. Tối đến, lúc ngồi vào bàn ăn, hai người thưa với
bố nuôi: "Chúng con sẽ chẳng chịu ăn đâu nếu như bố không thuận
cho chúng con một điều".
Bác hỏi: "Các con có điều gì vậy?".
Hai người đáp: "Giờ chúng con đã học thành nghề rồi, muốn đi
thử tài với thiên hạ một phen, xin hãy cho chúng con đi.". Bác thợ
săn vui lòng lắm: "Các con ăn nói đúng như những người thợ săn
dũng cảm, điều mong muốn của các con cũng chính là điều ước
nguyện của bố, các con cứ đi đi, tất sẽ thành công". Ba người lại ăn
uống rất vui vẻ.
Tới ngày đã định, bố nuôi tặng mỗi người một khẩu súng với
một con chó săn. Số vàng dành dụm bấy lâu nay cũng trả cho các
con mang theo tùy ý muốn. Bác đi tiễn các con một đoạn đường. Lúc
chia tay, bác còn cho thêm hai đứa một con dao còn mới sáng loáng
và bảo: "Khi nào các con từ biệt nhau, nhớ cắm con dao này vào một
gốc cây. Lúc trở về, cứ xem dao khắc biết tin nhau. Rút dao ra, nếu
thấy han rỉ tức là người vắng mặt đã chết. Trái lại, dao còn sáng
tức là người còn sống".
Hai anh em đi miết tới một khu rừng to, đi trọn một ngày mà
chưa hết rừng. Họ phải ngủ đêm ở đó và lấy lương khô ra ăn. Lại đi
trọn một ngày hôm sau nữa cũng chưa hết rừng. Lương ăn đã cạn
rồi anh bảo em: "Phải bắn con gì ăn cho đỡ đói". Nói xong anh nạp
đạn và tìm quanh. Thấy con thỏ chạy tới, anh giương súng ngắm
nhưng thỏ kêu: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con thỏ con".
Nó nhảy ngay vào bụi, sau đó tha ra hai chú thỏ con. Mấy con vật
nhỏ này trông rất đáng yêu, hai người động lòng thương không nỡ
giết. Họ giữ chúng lại và mang theo, hai con thỏ cũng bám rất sát
dấu chân hai người.
Một lát sau đó, lại gặp một con cáo. Hai người định bắn thì cáo
kêu lên: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con cáo nhỏ". Cáo
tha ra hai chú cáo nhỏ. Hai người cũng không nỡ giết, cho đi cùng
với hai con thỏ. Lát sau, một con sói ở chỗ rừng rậm ra. Hai người
định bắn thì sói kêu: "Hãy tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con sói
nhỏ". Họ tha hai con sói nhỏ nhập đàn với mấy con kia cùng đi.
Lại gặp một con gấu nhưng gấu cũng tham sống kêu lên: "Hãy
tha mạng cho tôi, tôi xin nộp hai con gấu nhỏ". Hai con gấu nhỏ
được nhập cùng đàn với mấy con trên, thành tám con tất cả.
Sau đó, họ gặp sư tử. Sư tử rũ bờm tiến lại. Nhưng hai người
nào có sợ. Họ giương súng ngắm. Sư tử vội kêu lên: "Hãy tha mạng
cho tôi, tôi xin nộp hai con sư tử con". Nó tha hai con nó ra. Thế là
hai người đã có một đôi sư tử, một đôi gấu, một đôi sói, một đôi cáo,
một đôi thỏ theo hầu. Trong bụng vẫn đói, họ mới bảo hai con cáo:
"Này các chú cáo, các chú vốn ranh mãnh, đa mưu lại nhẹ nhàng,
hãy kiếm cái gì ăn đi".
Cáo đáp: "Cách đây không xa có một thôn nhỏ, bọn tôi vẫn
thường tới đó ăn trộm gà, để chúng tôi xin dẫn đường".
Hai người tìm đường vào thôn, mua ít thức ăn, lại không quên
cho cả mấy con vật ăn rồi tiếp tục ra đi. Hai con cáo vốn đã biết quá
rõ trong vùng ấy chỗ nào nuôi gà, nên chúng chỉ đường cho hai
người thợ săn rất rành.
Đi quanh quẩn đã khá lâu rồi mà vẫn chẳng tìm ra được chốn
nào có việc làm mà lại ở cùng với nhau, nên hai anh em bàn: "Chỉ
còn cách là ta chia tay nhau thôi.". Hai người chia đám súc vật ra,
mỗi người lấy một con sư tử, một con gấu, một con sói, một con cáo
và một con thỏ. Rồi họ từ biệt nhau, hứa sẽ giữ tình anh em trọn
đời và cắm con dao mà bố nuôi đã cho họ lên một gốc cây.
Một người theo hướng đông mà đi, còn người kia lần theo
hướng tây. Người em dẫn đàn súc vật đi tới một thành thị kia, thấy
khắp nơi trong thành treo toàn cờ đen. Chàng rẽ vào một quán trọ
hỏi chủ quán có chỗ cho súc vật của chàng trọ không. Chủ quán đưa
chúng vào một cái chuồng, trên vách chuồng có lỗ thủng. Thế là thỏ
ta chui được ra ngoài đi kiếm một cái bắp cải trắng. Cáo cũng kiếm
được một con gà mái, ăn xong nó lại xơi luôn nốt con gà trống.
Nhưng sói, gấu và sư tử vì thân hình to lớn quá, không vào chuồng
được. Chủ quán bèn dẫn chúng ra một nơi, có con bò sữa đang nằm
trên thảm cỏ, chúng thịt ngay con bò sữa.
Chàng thợ săn lo cho đàn súc vật xong xuôi rồi mới hỏi thăm
chủ quán xem tại sao trong thành chỉ thấy toàn cờ tang.
Chủ quán cho biết: "Sáng mai, công chúa con một của đức vua
qua đời".
Chàng hỏi lại: "Nàng bị ốm nặng hay sao?".
Chủ quán đáp : "Không đâu, nàng vẫn tươi tỉnh khỏe mạnh
nhưng nàng sẽ phải chết".
Chàng thợ săn vẫn hỏi: "Sao vậy?".
- Trước cửa thành có một ngọn núi cao, trên núi có một con
rồng. Năm nào rồng cũng đòi phải hiến cho nó một người con gái
đẹp, bằng không nó sẽ tàn phá cả giang sơn này. Giờ thì con gái đẹp
trong thành đã hết rồi, chỉ còn lại mình công chúa, bắt buộc phải
hiến nàng cho nó thôi. Mai là tới kỳ hạn đó".
Chàng thợ săn lại hỏi: "Thế sao không giết con rồng đi?".
Chủ quán đáp: "Trời ơi, biết bao hiệp sĩ đã bỏ mình với nó rồi.
Vua hứa là nếu ai thắng nổi nó thì sẽ được lấy con gái người, sau
này lại sẽ được hưởng ngôi báu nữa".
Chàng thợ săn không nói gì nữa. Sáng hôm sau chàng lẳng
lặng dẫn súc vật lên núi tìm rồng. Lên đến trên núi chàng thấy có
một ngôi nhà thờ. Trên bàn thờ có ba cốc rượu đầy, bên cạnh có mấy
dòng chữ viết: "Ai uống cạn mấy cốc rượu này thì sẽ trở thành người
khỏe nhất trần gian và sẽ múa nổi thanh kiếm chôn ở dưới bậc
cửa". Chàng không uống rượu mà ra nhấc thanh kiếm ngay nhưng
không sao nhấc nó lên. Chàng đành phải quay lại uống cạn rượu,
lúc này mới đủ sức nhấc nổi thanh kiếm và còn có thể múa nó rất
dễ dàng nữa.
Tới giờ nộp công chúa cho con rồng, cả đức vua, quan nguyên
soái và quần thần đều đi theo để tiễn nàng. Từ xa nàng đã nom
thấy chàng thợ săn đứng trên một ngọn núi. Nàng ngỡ đó là con
rồng đang đợi nàng nên không chịu đi nữa. Nhưng nàng lại nghĩ số
phận của cả thành, nàng lại đành phải đi, bước chân nặng trĩu. Vua
và quần thần quay về, lòng buồn vô hạn, chỉ duy quan nguyên soái
còn phải đứng lại đó để chứng kiến từ xa các việc sắp xảy ra.
Công chúa lên ngọn núi thấy chẳng phải là rồng mà lại là
chàng thợ săn trai trẻ. Chàng an ủi nàng, bảo cho nàng biết là
chàng sẽ cứu nàng, đưa nàng vào trong nhà thờ và khóa cửa lại.
Một lát sau, có tiếng gió cuốn dữ dội rồi một con rồng bảy đầu xuất
hiện. Thấy chàng thợ săn nó ngạc nhiên lắm, hỏi:
- Mi lên núi có việc g´?
Chàng trả lời:
- Ta muốn đọ sức với mi.
Rồng bảo:
- Bao nhiêu hiệp sĩ đã bỏ mình ở nơi đây rồi, ta sẽ cho mi theo
gót chúng.
Tức thì cả bảy cái đầu của nó phun lửa phì phì. Lửa bắt vào cỏ
khô. Chàng thợ săn sẽ chết trong đám khói nếu mấy con vật của
chàng không kịp chạy tới dập tắt. Rồng bèn xông vào chàng. Chàng
vung kiếm, thanh kiếm rít trên không, chém rụng ba đầu rồng. Con
rồng nổi điên, nó bay vút lên cao khạc lửa đồng thời định đâm bổ
xuống. Chàng thợ săn lại chém luôn một nhát, đứt thêm ba đầu
nữa. Con vật đã quá kiệt sức rơi xuống nhưng nó vẫn muốn xông
vào lượt nữa. Chàng lấy hết sức còn lại chém đứt đuôi nó. Chàng
không đánh được nữa bèn gọi mấy con vật của chàng. Chúng xô lại
xé xác con rồng ra thành từng mảnh.
Cuộc chiến đấu đã xong, chàng mở cửa nhà thờ thấy công chúa
đang nằm lăn dưới đất. Trong lúc đánh nhau, nàng đã ngất đi vì
quá sợ. Chàng vực nàng ra ngoài, đợi một lúc nàng đã tỉnh và hé
mắt nhìn chàng mới chỉ cho nàng mấy khúc xác rồng để cho nàng
biết là nàng đã thoát. Công chúa mừng lắm nói: "Rồi chàng sẽ là
chồng thiếp vì cha thiếp có hứa sẽ gả con gái cho ai giết được rồng".
Nàng tháo chuỗi vòng san hô đang đeo ở cổ chia cho mấy con vật để
thưởng công cho chúng, riêng sư tử được chia cái khóa vàng. Còn
chiếc khăn tay thêu tên nàng, nàng đưa tặng chàng thợ săn. Chàng
bèn ra cắt bảy cái lưỡi của bảy đầu rồng, bọc vào khăn giữ cẩn thận.
Sau đó vì bị lửa hun và đánh nhau đã kiết sức, chàng bảo công
chúa: "Hai ta đều đã quá mệt mỏi, ta hãy ngủ một lúc". Công chúa
ưng thuận. Hai người nằm ngay dưới đất. Chàng bảo sư tử: "Mày
hãy ngồi canh đừng cho ai xâm phạm vào chúng ra trong giấc ngủ".
Hai người ngủ. Sư tử nằm cạnh hai người để canh, nhưng vì nó
cũng mệt rồi nên nó gọi gấu bảo: "Mày lại nằm cạnh tao, tao cần
ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức tao". Gấu lại nằm bên
sư tử nhưng vì gấu cũng mệt nó gọi sói bảo: "Mày lại nằm cạnh tao,
tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức tao". Sói lại
nằm bên gấu nhưng vì sói cũng mệt nên nó gọi cáo bảo: "Mày lại
nằm cạnh tao, tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày đánh thức
tao". Cáo lại nằm bên sói nhưng vì cáo cũng mệt nên gọi thỏ bảo:
"Mày lại nằm cạnh tao, tao cần ngủ một lúc, có chuyện gì thì mày
đánh thức tao". Thỏ lại nằm bên cáo nhưng vì chính chú thỏ đáng
thương cũng mệt rồi mà chẳng nhờ được ai canh giùm nên nó ngủ
thiếp đi mất. Thế là công chúa, anh thợ săn, sư tử, gấu, sói, cáo, thỏ
tất cả ngủ say.
Tên nguyên soái vẫn đứng nhìn ở đằng xa, lúc này không thấy
rồng cắp công chúa bay lên, trên núi đâu đấy vẫn yên tĩnh, hắn bạo
dạn đi lên. Lúc đến nơi, hắn thấy mấy khúc xác rồng lăn lóc trên
mặt đất và cách đó một quãng, công chúa với người thợ săn và mấy
con vật đang say sưa ngủ. Hắn vốn là tay gian ác xảo quyệt nên rút
kiếm chặt ngay đầu người thợ săn, rồi hắn bế công chúa xuống núi.
Công chúa thức giấc, thấy thế sợ lắm, nhưng tên nguyên soái đã
bảo: "Nàng giờ ở trong tay ta rồi, nàng phải nói chính ta đã chém
chết con rồng".
Công chúa đáp: "Ta không thể làm được đâu vì đó là công của
người thợ săn với mấy con vật".
Tên nguyên soái rút kiếm ra dọa nếu nàng không chịu nghe
hắn sẽ giết nàng. Công chúa đành phải nhận lời. Ngay sau đó, hắn
đưa nàng đến gặp vua cha. Vua cha vốn đinh ninh là con gái yêu
của mình đã bị quái vật xé xác nên thấy con vẫn sống trở về, vua
vui mừng khôn xiết.
Tên nguyên soái tâu: "Thần đã có công chém được con rồng để
cứu công chúa và cứu nước, nay xin bệ hạ cho thần được lấy nàng
như lời bệ hạ đã hứa hẹn.
Vua hỏi công chúa: "Có đúng như lời của hắn nói không?". Công
chúa đáp: "Thưa đúng như thế nhưng con xin đợi một năm lẻ một
ngày nữa rồi hãy làm lễ cưới". Nàng mong mỏi trong khoảng thời
gian đó may ra có thể được tin tức về người yêu.
Trên quả núi rồng, khi ấy mấy con vật vẫn còn nằm ngủ say
sưa cạnh thân chủ chúng. Bỗng có một con ong bay đến đậu ngay
trên mũi thỏ. Thỏ giơ chân gạt nó rồi lại ngủ. Ong bay đến lần thứ
hai, thỏ cũng gạt nó đi rồi lại ngủ. Ong bay lại lần thứ ba, đốt luôn
vào mũi thỏ. Thỏ giật mình tỉnh dậy. Nó đánh thức cáo, cáo đánh
thức sói, sói đánh thức gấu, gấu đánh thức sư tử. Sư tử tỉnh dậy,
thấy công chúa đã biến mất, chỉ còn chủ nằm chết đó, nó rống lên
rất dữ dội và hét: "Kẻ nào đã làm việc này? Gấu sao mày chẳng
đánh thức tao?". Gấu hỏi sói: "Sao mày chẳng đánh thức tao?". Sói
hỏi cáo: "Sao mày chẳng đánh thức tao?". Cáo lại hỏi thỏ: : "Sao
mày chẳng đánh thức tao?". Thỏ không biết trả lời thế nào, thành
thử tội lỗi đổ cả lên đầu nó.
Mấy con vật kia định xông vào đánh thỏ, thỏ vội khẩn khoản:
"Các anh đừng giết tôi, để tôi sẽ làm cho chủ của chúng ta sống lại.
Tôi biết một quả trên núi, trên có thứ rễ cây, chỉ cần ngậm thứ rễ
cây ấy là bệnh tật thương tích gì cũng khỏi. Nhưng quả núi lại ở
cách đây có tới hai trăm tiếng đồng hồ đường bộ kia". Sư tử bảo:
"Hẹn cho mày nội trong hai mươi bốn tiếng phải tới đó lấy bằng
được thứ rễ nọ về đây".
Thỏ nhảy tót đi ngay. Hăm bốn giờ sau nó đã về, mang theo
thứ rễ nọ. Sư tử vội tha đầu chủ, chắp vào mình như trước, còn thỏ
nhét rễ cây vào miệng chủ. Tức thì đầu lại liền ngay với mình, tim
bắt đầu đập và người chết sống lại. Chàng thợ săn tỉnh dậy thấy
mất công chúa, kinh hoảng lắm. Chàng nghĩ bụng: "Chắc nàng đã
thừa lúc ta ngủ bỏ trốn rồi".
Lúc sư tử chắp đầu cho chủ, nó vội quá nên chắp trái chiều,
nhưng chủ nó đang buồn không để ý. Mãi đến trưa lúc sắp ăn chàng
mới biết là đầu mình ngoảnh lại phía sau lưng. Chàng không hiểu
sao cả, bèn hỏi mấy con vật đã có chuyện gì xảy ra trong khi chàng
ngủ. Sư tử kể rằng khi ấy chúng ngủ hết vì mệt quá, lúc nó tỉnh dậy
thấy chủ đã chết, đầu bị chặt lìa khỏi xác, thỏ đã đi lấy rễ cây
trường sinh, còn nó trong lúc quá vội đã chắp đầu trái chiều, giờ nó
muốn sửa lại thiếu sót ấy. Kể xong, nó rứt luôn đầu chàng thợ săn
ra, xoay trở lại và thỏ lại vội lấy rễ cây chữa cho liền lại.
Chàng thợ săn buồn lắm. Chàng đi đây đi đó, dạy mấy con vật
nhảy múa làm vui cho thiên hạ xem. Đúng một năm sau, chàng trở
lại chỗ thành thị chỗ chàng đã cứu công chúa ngày trước. Lần này
thấy phố xá treo toàn cờ đỏ. Chàng hỏi chủ quán: "Thế là thế nào?
Năm trước phố xá treo toàn cờ đen, năm nay sao lại chỉ thấy treo
toàn cờ đỏ?". Chủ quán đáp: "Năm trước, vua chúng tôi phải tiến
công chúa cho rồng, may nhờ quan nguyên soái đánh nhau với rồng
đã chém được nó. Mai đây là ngày cưới nàng. Chính vì vậy mà năm
trước phố xá treo cờ đen để chịu tang, còn hôm nay treo cờ đỏ để ăn
mừng".
Hôm nay là ngày lễ cưới, đến bữa trưa, chàng thợ săn bảo chủ
quán: "Ông chủ có tin là bữa nay ta sẽ lấy được bánh mì ở tận bàn
tiệc của nhà vua về đây ăn không?".
Chủ quán thưa: "Tôi chẳng dám tin đâu; vâng, tôi xin cuộc với
ngài trăm đồng vàng đây".
Chàng thợ săn nhận đánh cuộc. Chàng cũng đưa ra một cái túi
đựng một trăm đồng vàng. Đoạn chàng gọi thỏ và bảo: "Chú thỏ tài
nhảy nhót, chú hãy vào lấy bánh của nhà vua ăn ra đây cho ta".
Thỏ vốn bé nhất đám, chẳng thể sai khiến con vật nào khác
nên nó đành phải tự thân đi lấy. Nó nghĩ bụng: "Một mình mình
chạy giữa phố thế này tất sẽ bị chó săn đuổi mất thôi". Quả như nó
nghĩ, có mấy con chó rượt theo, muốn lột da nó. Nó chạy nhanh như
biến và lẩn ngay được vào một cái chòi gác mà lính canh chẳng biết
gì hết.
Đàn chó xông lên định lôi nó ra nhưng tên lính canh lại ngỡ
đàn chó muốn rỡn với mình, hắn nổi nóng phang luôn mấy báng
súng. Lũ chó sủa om sòm rồi chạy mất.
Thỏ thấy đã hết nguy, nhảy luôn vào lâu đài. Nó đến thẳng chỗ
công chúa, lẻn dưới gầm ghế nàng ngồi khẽ cào chân nàng. Công
chúa tưởng là con chó của nàng nên mắng: "Mày có đi chỗ khác
không?". Thỏ cào lần thứ hai, công chúa lại mắng: "Mày có đi chỗ
khác không?". Nhưng thỏ không hề bối rối, nó cào lần thứ ba. Công
chúa mới nhòm xuống và nhờ cái dây buộc ở cổ thỏ, nàng nhận được
nó. Nàng bế nó lên, mang vào phòng hỏi: "Thỏ yêu quí ơi, thỏ muốn
gì thế".
Thỏ đáp: "Chủ tôi là người giết rồng hiện đã tới đây. Người sai
tôi vào xin một tấm bánh mì vua vẫn ăn". Công chúa nghe nói
mừng lắm. Nàng cho gọi ngay người thợ làm bánh vào, sai lấy một
tấm bánh, thứ mà vua vẫn thường ăn. Thỏ lại nói: "Xin cho người
thợ làm bánh đem tôi ra ngoài để lũ chó săn khỏi hại tôi".
Người thợ làm bánh đem thỏ đến tận cửa nhà trọ. Thỏ ôm tấm
bánh mì bằng hai chân trước, đi bằng hai chân sau đem vào chỗ ông
chủ. Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ quán ơi,
trăm đồng vàng kia là của tôi rồi". Chủ quán kinh ngạc lắm, nhưng
chàng thợ săn đã nói tiếp: "Vâng ông chủ ạ, bánh đã có rồi, giờ thì
tôi lại muốn ăn cả món thịt rán của nhà vua nữa kia!". Chủ quán
bảo: "Để xem nào". Nhưng anh ta không dám đánh cuộc nữa. Chàng
thợ săn liền gọi cáo bảo: "Chú cáo, chú hãy vào lấy món thịt rán của
vua ra đây cho ta".
Con cáo lông đỏ này luồn tài hơn thỏ. Nó cứ tìm ngõ ngách mà
đi nên không bị con chó nào trông thấy. Nó lẻn vào dưới gầm ghế
công chúa ngồi, cào lên chân nàng. Công chúa nhìn xuống, thấy sợi
dây buộc ở cổ cáo, nhận ra nó, đem nó vào phòng, hỏi: "Cáo yêu quí
ơi, cáo muốn gì thế?".
Cáo đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin một miếng thịt rán của vua ăn. Công chúa gọi đầu
bếp, sai làm món thịt rán vua vẫn ăn đem ra cho cáo. Cáo bưng lấy
đĩa thịt, đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt đã có rồi, bây giờ ta muốn ăn món rau của nhà vua nữa".
Chàng gọi sói vào bảo: "Chú sói, chú vào lấy món rau của nhà vua
ăn ra đây cho ta".
Sói chẳng sợ ai cả nên nó vào thẳng trong lâu đài. Nó đến
phòng công chúa, khẽ kéo áo nàng để nàng buộc phải nhìn xuống.
Nàng trông thấy sợi dây buộc ở cổ nó, nhận ra nó mới đưa nó vào
phòng, hỏi: "Sói thân yêu ơi, sói muốn g´?".
Sói đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin món rau của vua ăn".
Công chúa gọi đầu bếp, sai làm món thịt rau vua vẫn ăn đem
ra tận cửa cho sói. Sói bưng liễn rau đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt, rau đã có rồi, bây giờ ta muốn ăn món đồ ngọt của nhà vua
nữa". Chàng gọi gấu và bảo: "Chú gấu, chú vốn thích liếm của ngọt,
chú hãy lấy món đồ ngọt của vua ăn ra đây cho ta".
Gấu lạch bạch chạy vào lâu đài. Dọc đường, ai thấy nó cũng
phải lảng tránh. Tới chỗ lính canh, tên lính giơ súng định ngăn
không cho nó đi. Nó nhẩy ngay lên, và cho tên lính mấy cái tát vào
má phải má trái. Cả cái chòi gác đổ sập. Nó lại thẳng đường vào chỗ
công chúa, đứng sau lưng nàng khẽ gầm gừ. Công chúa quay lại
nhận ra gấu, bèn gọi nó vào phòng hỏi: "Gấu thân yêu ơi, gấu muốn
g´?".
Gấu đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Người
sai tôi vào xin món đồ ngọt của nhà vua vẫn dùng".
Công chúa vội gọi người thợ làm bánh ngọt, sai làm thứ bánh
ngọt vua thường ăn, mang ra cho gấu.
Gấu liếm đường rơi bên dưới lên cả phía trên rồi nó mới đứng
dậy, bưng âu bánh đem về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa, ông chủ ơi, bánh,
thịt, rau, đồ ngọt đã có rồi, bây giờ ta lại muốn uống thứ rượu mà
vua thường dùng".
Chàng gọi sư tử vào và bảo: "Chú sư tử, chú vốn thích rượu.
Chú hãy vào lấy thứ rượu nho của vua về cho ta". Sư tử đi ra
đường, ai thấy nó cũng chạy; tới chỗ chòi gác. Lính canh định cản
đường nó, nó rống lên một tiếng, mọi thứ đã bị bắn tung đi hết. Sư
tử đến trước phòng vua, quất đuôi lên cửa. Công chúa ra, thoạt thấy
nó rất kinh khủng, nhưng rồi nàng nhận ra nó nhờ có cái chìa khóa
vàng buộc ở cổ nó. Nàng gọi nó vào phòng, hỏi: "Sư tử thân yêu ơi,
sư tử muốn gì?".
Sư tử đáp: "Chủ tôi là người giết rồng, hiện đã ở đây rồi. Tôi
vào xin thứ rượu nho mà vua vẫn uống".
Công chúa vội cho gọi người hầu rượu, sai đem thứ rượu nho
vua vẫn uống ra cho sư tử. Sư tử nói: "Để tôi đi xem có đúng thứ ấy
không!".
Nó liền đi theo người hầu rượu. Xuống dưới hầm, người này
định lấy thứ rượu thường của bọn người hầu vẫn uống. Sư tử bảo:
"Khoan, đợi ta nếm xem đã!". Nó tự rót lấy nửa bình, tu một hơi cạn
ráo. Nó bảo: "Không phải thứ này". Người hầu rượu liếc trộm nó rồi
ra chỗ thùng rượu khác, định lấy thứ rượu vẫn dành cho quan
nguyên soái. Sư tử lại bảo: "Khoan để ta nếm xem đã!". Nó tự rót
nửa bình nữa, tu cạn: "Có khá hơn nhưng vẫn chưa phải".
Người hầu rượu phát cáu mới nói: "Cái đồ súc vật, ngu độn còn
biết gì về rượu!". Tức thì gã bị sư tử vả ngay cho một cái vào sau
gáy ngã phục xuống bất tỉnh nhân sự. Lúc tỉnh lại rồi, gã không
dám nói gì nữa, cứ lẳng lặng đưa sư tử đến bên một cái hầm đặc
biệt nhỏ nhắn. Trong đó là rượu của vua. Xưa nay ngoài vua ra
không ai được uống.
Sư tử lại rót lấy nửa bình nếm trước. Xong nó bảo: "Có thể
đúng đấy". Nó sai gã kia rót ra sáu chai đầy, rồi cùng đi lên. Lúc ra
tới bên ngoài, nó thấy chuyếnh choáng hơi say. Gã kia đem rượu ra
đến tận cửa cho nó. Nó ngoạm giỏ rượu vào mồm tha về cho chủ.
Chàng thợ săn bảo chủ quán: "Thấy chưa ông chủ, bánh, thịt,
rau, đồ ngọt, rượu nho của vua đã có đủ cả, giờ ta mới cùng mấy con
vật thưởng thức đây".
Chàng ngồi vào ăn uống, lại chia cả cho thỏ, cáo, sói, gấu, sư tử
cùng ăn và uống. Chàng thấy công chúa vẫn yêu mình nên vui lắm.
Ăn xong, chàng bảo: "Này ông chủ, tôi đã ăn uống như vua rồi, giờ
tôi muốn vào triều để xin lấy công chúa đây!". Chủ quán hỏi: "Xin
thế nào được! Công chúa đã có nơi có chốn rồi, mà hôm nay là ngày
cưới kia mà".
Chàng bèn rút túi ra lấy cái khăn tay mà công chúa đã cho
chàng ở trên núi rồng khi trước, trong khăn tay vẫn gói bảy cái lưỡi
của con quái. Chàng nói: "Ta đã có vật này trong tay, nó sẽ giúp ta
làm việc ấy". Chủ quán xem cái khăn rồi bảo: "Tin gì thì tin chứ
điều đó tôi không thể tin được. Tôi sẵn lòng xin cuộc cả nhà cửa,
sân vườn đây!". Chàng thợ săn lại lấy ra một cái túi trong đó có
nghìn đồng vàng, đặt lên bàn rồi nói: "Ta cũng xin cuộc số vàng
này".
Ở bàn ăn trong cung, vua hỏi công chúa: "Mấy con thú cứ đi ra
đi vào trong cung, chúng đến chỗ con có việc gì thế?". Nàng đáp:
"Con chẳng dám tâu trình đâu, xin cha cứ cho người đi gọi chủ
nhân của nó tới đây, cha sẽ rõ".
Vua sai kẻ hầu đến quán trọ mời người lạ mặt. Kẻ hầu đến,
đúng như chàng thợ săn đã đánh cuộc với chủ quán. Chàng bảo:
"Ông thấy chưa, ông chủ, vua sai kẻ hầu đi mời tôi đó, nhưng tôi
chẳng đi như thế này đâu".
Chàng lại bảo người hầu: "Ngươi về tâu vua xin hãy gởi hoàng
bào cho ta, xin hãy cấp cho ta một cỗ xe sáu ngựa với một số quân
hầu".
Vua được tin báo, hỏi công chúa: "Làm sao bây giờ?". Công chúa
đáp: "Xin cứ triệu và cấp mọi thứ như chàng đòi, sẽ không uổng
đâu". Vua bèn sai đem áo hoàng bào với một cỗ xe sáu ngựa cấp cho
chàng, lại cấp cho một số người để hầu hạ chàng. Chàng thợ săn
thấy đoàn người kéo đến, bảo chủ quán : "Thấy chưa, ông chủ, thế
là tôi đã được triệu, đúng như tôi đòi đấy nhé". Chàng mặc áo
hoàng bào, cầm theo chiếc khăn gói lưỡi rồng rồi lên xe vào chầu.
Vua thấy chàng đã đến, hỏi con gái: "Ta tiếp hắn thế nào đây?".
Nàng đáp: "Xin Người cứ ra đón, sẽ không uổng đâu".
Vua bèn đón chàng, đưa chàng vào, mấy con vật cũng đi theo
sau. Vua chỉ cho chàng ngồi cạnh mình với công chúa. Còn tên
nguyên soái ngồi ghế chú rể ở phía bên kia, nhưng gã không nhận
ra được chàng.
Vừa khi đó, bảy chiếc đầu rồng được đem bày. Vua phán: "Bữa
nay, ta gả con gái cho quan nguyên soái là để thưởng cái công đã
chém được bảy chiếc đầu này".
Chàng thợ săn liền đứng lên, ra mở từng đầu một hỏi: "Thế bảy
cái lưỡi rồng đâu?". Tên nguyên soái sợ tái mặt. Không biết trả lời
ra sao, sau cùng gã nói liều: "Rồng không có lưỡi".
Chàng thợ săn bảo: "Chỉ những đứa gian trá mới không có lưỡi,
còn lưỡi rồng chính là vật chứng của người thắng trận". Chàng cởi
chiếc khăn ra, bảy cái lưỡi vẫn nguyên đó. Chàng lắp từng cái một
vào từng đầu rồng, quả nhiên đều khớp hết. Sau đó chàng lại đưa
cho công chúa xem chiếc khăn thêu tên nàng và hỏi nàng đã cho ai
chiếc khăn này. Công chúa đáp: "Cho người đã chém chết con rồng".
Chàng lại gọi từng con vật lại, tháo lấy mấy sợi dây buộc ở cổ chúng
rồi tháo cả cái khóa vàng ở cổ sư tử, đưa cho công chúa và hỏi của
ai. Nàng đáp: "Mấy sợi dây buộc cổ và cái khóa vàng này đều là của
thiếp, thiếp chia cho mấy con vật để thưởng chúng đã góp công giết
rồng".
Khi ấy chàng thợ săn mới nói: "Thừa lúc thần đánh rồng xong,
mệt mỏi ngủ mất, tên nguyên soái kia đã đi đến chặt đầu thần. Sau
đó, gã đưa công chúa đi và mạo nhận là chính gã đã chém rồng.
Mấy cái lưỡi, chiếc khăn tay với mấy sợi dây buộc cổ đây chứng
minh là gã nói dối".
Chàng lại kể tiếp chuyện mấy con vật đã đi kiếm rễ cây thần về
cứu chàng như thế nào, một năm qua chàng đã đi phiêu dạt những
đâu, rồi cuối cùng lại quay trở về đúng nơi đây, nhờ chủ quán trọ
nói cho nghe mà biết được mưu gian của tên nguyên soái.
Vua bèn hỏi công chúa: "Có đúng người này đã chém rồng
không?". Nàng đáp: "Tâu, đúng thế, giờ con mới dám nói ra cái tội
của tên nguyên soái. Con không nói thì chuyện cũng lộ rồi. Nó đã
bức con phải hứa giữ kín. Mà con xin để một năm lẻ một ngày sau
hãy làm lễ cưới, chính cũng vì chuyện ấy".
Vua cho triệu mười hai mưu sĩ đến để luận tội tên nguyên soái.
Các mưu sĩ khép hắn vào án tử hình. Xử tội hắn xong, vua cho
chàng thợ săn lấy công chúa, lại phong chàng làm phó vương trong
cả nước. Đám cưới được tổ chức rất trọng thể. Phó vương cho người
đi triệu bố đẻ và bố nuôi mình, tặng hai người rất nhiều châu báu.
Chàng cũng không quên người chủ quán trọ. Chàng cho triệu người
ấy vào, bảo: "Thấy không, ông chủ, tôi đã lấy công chúa rồi, nhà cửa
sân vườn nhà ông giờ là của tôi". Chủ quán thưa: "Thưa như vậy là
đúng lý". Nhưng vị phó vương đã bảo: "Thôi để ta khoan hồng cho:
nhà cửa sân vườn ông cứ giữ, còn nghìn vàng nọ ta tặng thêm cho
ông đó". Còn người bác nghe chuyện, sợ chàng hỏi tội trốn đi mất.
Phó vương với công chúa từ đó sống rất vui vẻ và hạnh phúc. Chàng
đi săn luôn, vì đó là sở thích của chàng và mấy con vật trung thành
thường đi theo chủ.
Gần đó có một khu rừng. Người ra đồn trong rừng có quỷ và ít
ai vào rừng mà lại ra được. Vị phó vương trẻ tuổi rất muốn đi vào
đó săn. Chàng cứ nài mãi, cuối cùng ông vua già phải bằng lòng cho
chàng đi. Chàng lên ngựa, đem theo một đoàn tùy tùng rất đông.
Vào đến cửa rừng thấy con hươu cái lông trắng như tuyết. Chàng
bảo những người theo hầu: "Các người hãy chờ ta ở đây, ta muốn đi
săn con thú đẹp đẽ kia". Chàng thúc ngựa đuổi theo hươu vào rừng,
chỉ có mấy con vật theo chàng thôi.
Đoàn người đứng lại đợi cho đến chiều, không thấy chàng ra.
Họ đành quay ngựa về báo với công chúa: "Phó vương đuổi theo một
con hươu trắng vào khu rừng thiêng rồi không thấy trở ra".
Công chúa lo cho chồng vô cùng. Trong lúc ấy, chàng vẫn mãi
đuổi con thú mà không sao theo kịp nó được. Cứ đúng lúc chàng
thấy vừa tầm bắn thì nó lại nhảy xa hơn và cứ thế sau rồi nó biến
đâu mất.
Lúc này chàng mới thấy mình đã vào quá sâu trong rừng.
Chàng đưa tù và lên rúc một hồi, không thấy trả lời vì không ai
nghe được tiếng tù và của chàng. Tối đến, thấy rõ mình không kịp
về nữa, chàng xuống ngựa, bên một gốc cây đốt lửa định bụng sẽ
ngủ đêm tại đó.
Chàng vừa ngồi xuống bên đống lửa, mấy con vật cũng nằm
quanh đó, chợt nghe văng vẳng như có tiếng người. Chàng nhìn
quanh nhưng chẳng thấy gì. Lúc sau lại thấy có tiếng rên ở trên
cao. Chàng nhìn lên thấy một mụ già ngồi vắt vẻo trên cây, đang
rên rỉ: "Hu, hu, hu, rét quá!". Chàng bảo mụ: "Rét thì xuống đây mà
sưởi".
Nhưng mụ ta đáp: "Chịu thôi, lũ súc vật của người sẽ cắn ta
mất".
Chàng lại bảo: "Chúng không làm gì mẹ đâu, mẹ ơi, cứ xuống
đây".
Mụ già ấy chính là một mụ phù thủy. Mụ bảo: "Để ta ném cây
gậy xuống. Người cứ lấy cây gậy đập lên lưng chúng là chúng sẽ
không làm gì ta nữa đâu". Nói rồi mụ ném xuống một cái gậy nhỏ.
Chàng lấy gậy đập lên lưng mấy con vật. Tức thì chúng nằm yên và
bị hóa đá ngay tức khắc. Không phải lo về mấy con vật nữa, mụ phù
thủy mới nhảy xuống, lấy cây gậy đập nốt vào người chàng, biến
chàng thành đá. Xong mụ rú lên cười, lôi chàng và mấy con vật
xuống một cái hố, trong lòng hố có nhiều tảng đá loại ấy rồi.
Công chúa ở nhà đợi mãi không thấy chồng về, càng lo sợ.
Vừa khi ấy, người anh lúc chia tay đi về hướng đông, nay cũng
tới xứ này. Chàng đi tìm việc làm chẳng được, cứ lang thang đây đó,
dạy mấy con vật nhảy múa làm trò vui. Một ngày kia, chàng muốn
về thăm gốc cây, chỗ hai người đã cắm lưỡi dao lúc chia tay để xem
em mình ra sao.
Trở về đó, chàng thấy bên mặt dao của em đã bị rỉ mất một
nửa, chỉ còn một nửa vẫn sáng. Chàng lo quá, thầm nghĩ: "Chắc em
ta gặp nạn lớn rồi, nhưng may ra còn cứu được, vì nửa dao kia vẫn
sáng. Chàng vội dẫn súc vật đi về hướng tây. Lúc tới cổng thành,
lính canh hỏi có cần phải vào tin cho hoàng hậu biết không: từ mấy
hôm nay, hoàng hậu rất lo vì sự vắng mặt của phó vương, người chỉ
sợ phó vương đã gặp họa trong rừng mất rồi.
Lính canh tưởng chàng chính là vị phó vương trẻ tuổi, vì nom
chàng giống em như hệt, lại cũng có một đàn súc vật đi theo. Khi ấy
chàng biết tên lính đã nhầm mình với em mình, bèn tự nghĩ thầm:
"Tốt nhất là ta hãy nhận đi, sẽ càng dễ cứu em hơn". Chàng liền để
tên lính đưa mình vào trong cung và được đón tiếp rất vui vẻ. Công
chúa cũng tưởng đó là chồng mình nên hỏi: "Tại sao chàng vắng
nhà lâu thế?". Chàng đáp: "Ta bị lạc vào rừng, mãi mới tìm được lối
ra". Tối đến chàng nằm trên giường em, để một thanh kiếm hai lưỡi
chắn giữa mình và công chúa. Công chúa chẳng hiểu thế nào,
nhưng không dám hỏi.
Chàng ở lại vài ngày, thăm dò mọi tin tức về khu rừng thiêng
nọ, rồi chàng bảo: "Ta phải đến đó săn lần nữa". Vua và công chúa
muốn can ngăn mà không được. Chàng dẫn một đoàn tùy tùng rất
đông lên đường. Vào đến rừng, chàng cũng gặp đúng mọi sự như em
mình trước đó. Chàng thấy một con hươu trắng, bèn bảo những
người đi theo: "Hãy đợi ta ở đây, ta muốn săn con thú kia". Chàng
thúc ngựa vào rừng, mấy con vật chạy theo sau chàng. Nhưng
chàng không tài nào đuổi kịp được con hươu. Vào đã sâu quá, tối
đến chàng phải ngủ lại trong đó. Vừa khi đốt được đống lửa, chàng
nghe trên đầu có tiếng rên: "Hu, hu, hu, rét quá!". Chàng nhìn lên,
thấy mụ phù thủy ngồi trên cây. Chàng bảo: "Nếu rét, thì xuống
đây mà sưởi mẹ ạ". Mụ đáp: "Chịu thôi, lũ súc vật của người sẽ cắn
ta mất". Nhưng chàng lại bảo: "Chúng không làm gì mẹ đâu". Mụ
bèn gọi xuống: "Ta sẽ ném cho người một cái gậy, người lấy gậy ấy
mà đập chúng thì chúng sẽ không làm gì ta nữa".
Chàng thợ săn nghe thấy thế không tin mụ già nữa. Chàng
bảo: "Ta sẽ không đánh mấy con vật của ta đâu, mụ hãy xuống đi,
bằng không ta sẽ lôi mụ xuống". Mụ bèn hét lên: "Mày muốn gì
nào? Mày làm gì được ta?". Nhưng chàng đáp: "Mụ không xuống thì
ta sẽ bắn mụ ngã xuống". Mụ bảo: "Mày cứ việc bắn, ta không sợ gì
mấy viên đạn của mày". Chàng giơ súng bắn, nhưng vì đạn chì nên
không thể xuyên vào người mụ, Mụ cười sằng sặc và hét: "Mày
không tài nào bắn trúng được ta đâu!". Chàng thợ săn đã biết,
chàng vội rứt ba cái cúc bạc trên áo nạp luôn vào nòng súng. Vì
như thế, tà thuật của mụ không linh thiêng nữa, nên khi chàng
bấm cò thì nó hét lên lộn nhào ngay xuống đất. Chàng dẫm một
chân lên người nó, bảo: "Con mụ phù thủy già, nếu mày không chịu
thú em ta hiện ở đâu thì ta sẽ sách mày quăng luôn vào đống lửa".
Mụ sợ quá, xin tha và nói: "Chàng cùng mấy con vật đã bị hóa đá ở
dưới một cái hố". Chàng liền bắt mụ dẫn tới đó, đe mụ và bảo: "Con
khỉ độc già kia, giờ mày phải làm cho em ta và mọi vật ở dưới này
sống lại. Bằng không ta sẽ ném mày vào lửa".
Mụ vội lấy gậy khẽ động vào các tảng đá, tức thì em chàng với
mấy con vật đều sống lại, cả nhiều người khác nữa, lái buôn, thợ
thủ công, mục đồng. Mọi người đứng dậy, cảm ơn cứu mạng, rồi kéo
nhau về. Hai anh em gặp nhau, ôm hôn, vui mừng khôn kể. Hai
người túm lấy mụ phù thủy, trói mụ lại vứt vào lửa. Sau khi mụ
chết thiêu rồi, khu rừng tự nó cũng biến đổi, trở nên quang đãng
sáng sủa hơn, có thể thấy được cung điện chỉ các đó ba giờ đường
bộ.
Hai anh em cùng về. Dọc đường, hai người kể cho nhau nghe
chuyện mình. Khi người em báo tin là chàng được thay vua trị vì
cả nước thì anh bảo: "Điều ấy anh đã biết. Lúc anh vào thành,
người ta cứ tưởng anh là chú nên đã dành cho anh mọi thứ nghi lễ
của các bậc vua chúa. Ngay công chúa cũng tưởng anh là chồng nên
anh đã phải ăn cùng bàn, nằm cùng giường với nàng".
Em nghe tới đó nổi ghen, điên tiết rút kiếm chém một nhát đứt
lìa đầu anh. Đến lúc thấy anh nằm chết đó, máu tuôn chảy thì anh
hối hận vô cùng. Chàng kêu lên: "Anh ta đã cứu ta mà giờ ta nỡ hại
người", rồi khóc lóc thảm thiết.
Thỏ chạy lại xin cho đi lấy rễ cây trường sinh. Nó đi rồi về còn
vừa kịp: người chết sống lại và không biết gì về vết thương trên
mình cả.
Hai người lại đi tiếp. Em bảo: "Nom anh giống em như hệt.
Anh cũng mặc áo hoàng bào như em, đằng sau cũng có mấy con vật
kéo theo. Ta thử vào hai cổng khác nhau rồi từ hai phía cùng đi vào
chỗ vua ngự xem thế nào?".
Hai người tách ra. Sau đó vua thấy cùng một lúc lính canh ở
hai cổng khác nhau cùng báo là phó vương dẫn mấy con vật đi săn
về.
Vua phán: "Sao lại thế được, hai cổng thành cách nhau có đến
một giờ đường bộ kia mà?". Trong khi ấy, hai anh em từ hai phía
khác nhau đã cùng vào tới trước sân lâu đài và đang cùng bước lên.
Vua hỏi công chúa: "Con bảo người nào là chồng con? Hai người
giống hệt nhau, ta không phân biệt được". Công chúa sợ lắm, chẳng
biết nói sao. Sau nàng chợt nhớ đến sợi dây vàng đã cho lũ súc vật
để buộc cổ. Nàng tìm một lúc thấy ngay chiếc khóa vàng ở cổ một
con sư tử. Nàng mừng quá, reo lên: "Người có con sư tử này đi theo
mới thật là chồng con". Phó vương cười bảo: "Đúng, đúng vậy đó".
Mấy người cùng ngồi vào bàn ăn uống rất vui vẻ.
Tối hôm ấy, lúc phó vương vào giường nằm, công chúa mới bảo:
"Tại sao mấy đêm trước, đêm nào chàng cũng đặt thanh kiếm hai
lưỡi giữa giường, thiếp cứ nghĩ là chàng có ý định chém chết thiếp".
Khi ấy phó vương mới rõ hết tấm lòng của anh mình.
Chân lý luôn thuộc về những con người trung hậu, dũng cảm.
Những thế lực đen tối luôn bị chặn đứng trước những con người
trung hậu, dũng cảm đó.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:39 | IP Logged Trích dẫn halong

Người thợ săn tài giỏi


Xưa có một gã con trai học nghề thợ khóa. Một hôm anh thưa
cha, muốn ra ngoài thiên hạ để thi thố tài năng. Người cha bảo:
- Được con ạ, cha cũng bằng lòng thôi.
Ông đưa con lên đường và cho con một ít tiền. Anh con trai đi
tìm việc làm. Nhưng chỉ ít lâu sau, anh thấy chán nghề và thích đi
săn. Đang lang thang, anh gặp một bác thợ săn mặc quần áo màu
lục, hỏi anh từ đâu đến và định đi đâu. Anh bảo anh là thợ khóa,
giờ không thích nghề ấy nữa, muốn học săn bắn, không biết bác có
sẵn lòng nhận anh làm học trò không. Bác thợ săn đáp:
- Ồ, có chứ! Nếu chú thích thì cứ đi với tôi.
Anh đi theo, ở với bác mấy năm liền và được bác truyền nghề
cho. Ít lâu sau, anh lại xin đi để tìm dịp thử tài. Bác thợ săn trả
công cho anh một khẩu súng hơi. Súng này đặc biệt là bắn gì trúng
nấy.
Anh đến chỗ kia có khu rừng rậm, đi cả ngay vẫn chưa hết. Tối
đến, để tránh thú dữ, anh leo ngồi trên ngọn cây cao. Khoảng nửa
đêm, anh thấy ở xa có ánh lửa le lói. Anh nhìn kỹ qua đám cành lá,
cố nhớ chỗ ấy. Anh lại lấy mũ ném về phía ánh lửa, đánh dấu
đường. Xong anh tụt xuống nhặt mũ rồi cứ hướng ấy thẳng đường
đi tới.
Càng đi tới, ánh lửa càng rõ. Lúc đến gần, anh thấy một đống
lửa rất to, ba gã khổng lồ đương xiên một con bò nướng. Bỗng một
gã bảo:
- Tớ phải nếm xem sắp chín chưa.
Gã xé một miếng, sắp đưa vào miệng thì bị anh thợ săn bắn
một phát, thịt văng đi mất. Gã nói:
- Ôi chao, thế mà gió cũng thổi bay được miếng thịt mình cầm
đấy!
Gã xé miếng khác. Gã ghé răng vừa định cắn, lại bị anh thợ
săn bắn luôn phát thứ hai, thịt văng mất nốt. Gã cáu quá, tát gã
ngồi bên quát:
- Cậu giằng của tớ à?
Gã kia cãi:
- Tớ có giằng đâu, chắc tay thiện xạ nào bắn văng đi đấy.
Gã khổng lồ xé miếng thịt thứ ba, nhưng gã cầm chưa chắc tay
đã lại bị bắn văng luôn nốt.
Mấy gã bảo nhau:
- Người bắn rơi miếng ăn của ta nhất định phải là tay thiện xạ.
Thật là cần được một người như thế!
Cả ba gã gọi ầm ĩ:
- Này nhà thiện xạ ra đi nào! Ra đây sưởi ấm ăn no, bọn tớ
không làm gì cậu đâu! Nhưng nếu cậu không chịu ra, để bọn tớ phải
đi tìm thì lúc ấy xong đời cậu.
Anh bèn bước ra, nói anh là tay thợ săn lành nghề, bắn gì
trúng nấy. Chúng bảo nếu anh muốn đi với chúng, chúng sẽ cho đi.
Chúng kể cho anh biết, ở trước cửa rừng có một nàng công chúa
xinh đẹp, chúng đang muốn cướp nàng ấy. Anh nói:
- Được, việc ấy dễ thôi!
Chúng lại bảo:
- Nhưng còn điều này: ở đấy có con chó nhỏ, cứ thấy người đến
gần là nó sủa. Mà hễ nó sủa là kinh động cả triều đình. Cậu có bắn
chết con chó ấy được không?
Anh bảo:
- Được chứ, có khó gì cái trò mọn ấy.
Sau đó anh xuống thuyền qua sông. Lúc thuyền vào gần bờ, con
chó chạy ra định sủa. Anh bắn nó chết ngay. Bọn khổng lồ thấy thế
mừng lắm, chắc mẩm phen này sẽ cướp được công chúa. Nhưng anh
muốn vào xem tình hình ở trong động tĩnh thế nào đao. Anh bảo
chúng cứ đứng đợi, chờ anh gọi.
Anh vào trong lâu đài, thấy thật yên tĩnh. Anh mở cửa phòng
đầu tiên, thấy trên tường treo thanh kiếm bạc, có đính ngôi sao
vàng và khắc tên vua. Trên bàn cạnh đấy, có lá thư niêm phong gắn
xi. Anh xé thư đọc. Thư viết: "Ai lấy được kiếm thì chém ai cũng
chết". Anh lấy kiếm đeo rồi lại đi. Sang đến căn phòng công chúa
ngủ, thấy nàng đẹp quá, anh nín thở ngắm mãi, bụng nghĩ: "Người
con gái ngây thơ thế, sao ta nỡ để vào tay mấy người khổng lồ hung
bạo và nham hiểm?". Anh nhìn quanh, thấy một đôi hài dưới gầm
giường. Hài bên phải đính một ngôi sao có tên vua. Hài bên trái
cũng đính một ngôi sao có tên công chúa. Cổ nàng quấn chiếc khăn
lụa lớn thêu kim tuyến, vạt bên phải thêu tên vua với một ngôi sao,
vạt bên trái thêu tên nàng với một ngôi sao, chữ vàng rực rỡ. Anh
lấy kéo cắt vạt khăn bên phải bỏ túi. Anh bỏ túi cả chiếc hài bên
phải thêu tên vua. Trong lúc ấy, người con gái vẫn ngủ say, người
như vùi trong áo. Tiện tay anh cắt một mảnh áo đút nốt vào túi kia.
Anh làm rất nhẹ nhàng, không động đến người nàng.
Xong anh ra đi, để nàng ngủ yên. Lúc anh đến cổng, bọn khổng
lồ đợi ở ngoài tưởng anh đem công chúa ra. Anh gọi chúng vào bảo:
người thiếu nữ đó ở tay anh rồi. Anh không mở được cổng, nhưng
cổng có lỗ hổng, chúng phải chui mà vào. Đợi gã thứ nhất lại, anh
túm tóc kéo đầu nó, chặt một nhát, đoạn kéo cả người nó vào trong
nốt. Xong anh gọi đứa thứ hai, chặt đầu nó rồi đến đứa thứ ba và
rất mừng là cứu được công chúa khỏi tay kẻ thù. Anh xẻo lưỡi mấy
đứa, bỏ túi. Khi ấy anh nghĩ bụng: "Hay ta về cho cha biết những
việc ta làm đã, rồi ta lại đi quanh thiên hạ, nhất định sẽ gặp vận".
Vua ở trong lâu đài thức dậy thấy xác ba đứa khổng lồ, vội
chạy sang phòng công chúa hỏi ai đã giết lũ giặc. Công chúa thưa:
- Tâu vua cha, con ngủ say nên không biết.
Công chúa tỉnh dậy, định mang hài thì chiếc bên phải đã mất.
Nàng nhìn khăn thấy mất vạt bên phải, nhìn áo cũng thấy mất một
mảnh.
Vua cha hội cả triều thần, binh tướng, hỏi ai đã giết lũ khổng
lồ, cứu công chua. Có tên đại úy chột mắt, xấu trai đứng ra nhận
liền.
Vua bèn phán gả công chúa cho gã để thưởng công. Công chúa
thưa:
- Tâu vua cha, thà con bỏ nhà ra đi, chứ con không thể lấy tên
ấy được!
Vua truyền nếu nàng không vâng lời thì bắt nàng cởi trả hoàng
y, mặc quần áo nông thôn rồi đuổi đi. Nàng phải tới một hàng nồi
kia để ngồi bán nồi đất.
Công chúa trả hoàng y, đến nhà hàng nồi hỏi mượn trước một
số nồi, hẹn chiều bán xong sẽ trả tiền.
Vua lại bắt nàng phải dọn hàng ngay ở góc đường. Xong vua
thuê mấy chiếc xe, sai đánh chạy qua giữa đám nồi đất cho vỡ hết.
Công chúa vừa dọn hàng thì đoàn xe kéo đến, cán vỡ tất.
Nàng khóc nói:
- Trời ơi, giờ biết lấy gì đền nhà hàng!
Vua muốn dùng cách ấy để buộc nàng lấy viên đại úy. Nhưng
nàng lại đến hàng nồi, hỏi mượn thêm chuyến hàng nữa. Nhà hàng
không chịu, bắt nàng phải nộp lại đủ số tiền lần trước đã. Nàng về
kêu khóc với cha, nói nàng muốn đi xa.
Vua phán:
- Ta sẽ cho dựng một cái lán nhỏ trong rừng, ngươi vào đó mà ở.
Ngươi sẽ phải nấu ăn cho bất kỳ ai mà không được lấy tiền.
Lán dựng xong, ngoài cửa treo tấm biển đề: "Hôm nay không
lấy tiền, mai sẽ lấy". Công chúa đến đấy ở. Tin truyền đi chỗ nọ có
người con gái nấu ăn không lấy tiền, biển treo ngoài cửa đề rõ ràng
như thế.
Tin đồn đến tai anh thợ săn. Anh nghĩ bụng: "Đấy là dịp tốt
cho mình, mình nghèo xơ xác, một xu không có". Anh khoác súng,
đeo túi đi. Trong túi còn nguyên những thứ đã lấy ở lâu đài làm vật
chứng. Vào rừng, anh tìm thấy cái làn có biển đề: "Hôm nay không
lấy tiền, mai sẽ lấy". Anh vẫn đeo thanh kiếm dùng để giết ba gã
khổng lồ, bước vào xin ăn. Anh mừng rỡ thấy người con gái đẹp quá,
cứ như tranh vẽ. Nàng hỏi anh từ đâu lại và định đi đâu. Anh đáp:
- Tôi ngao du thiên hạ.
Nàng thấy tên cha mình trên đốc kiếm, hỏi anh đã lấy nó ở
đâu. Anh hỏi nàng có phải là công chúa không. Nàng đáp:
- Đúng.
Anh bảo:
- Chính tôi ngày ấy đã chặt đầu ba đứa khổng lồ bằng thanh
kiếm này.
Anh lấy xâu lưỡi trong túi ra làm chứng, lại cho nàng xem cả
chiếc hài, vạt khăn và mảnh áo. Nhận ra người cứu mình, công
chúa vui mừng khôn xiết.
Sau đấy, hai người về gặp vua. Công chúa dẫn vua về phòng
riêng của mình ngày trước, đoạn tâu để vua rõ: Chính anh thợ săn
mới là người đã cứu mình và giết lũ khổng lồ. Vua thấy vật chứng
rành rành, không ngờ gì nữa mới phán: "Giờ mọi sự đã rõ ràng là
điều rất tốt. Ta thuận cho chàng thợ săn làm phò mã". Công chúa
nghe phán mừng vô hạn.
Sau đấy người ta cho anh thợ săn ăn mặc giả làm khách lạ.
Vua truyền bày tiệc cưới. Khách vào bàn tiệc, tên đại úy ngồi bên
trái công chúa, anh thợ săn ngồi bên phải công chúa. Tên đại úy cứ
tưởng anh là khách mời đến. Ăn uống xong, vua phán người có điều
muốn hỏi để tên đại úy thử đoán xem: "Có kẻ dám nhận đã giết ba
đứa khổng lồ, người ta mới hỏi lưỡi mấy đứa ấy đâu, nó ra tìm thấy
đầu lâu không có lưỡi, thì thế nào?"
Tên đại úy tâu:
- Tất mấy đứa kia không có lưỡi.
Vua phán:
- Nói sai rồi. Phàm động vật, giống nào lại không có lưỡi.
Vua hỏi tiếp:
- Với kẻ nói sai, nên xử lý thế nào?
Tên đại úy đáp:
- Tâu, phải đuổi nó ra ngoài cõi
Vua phán: "Thế là nó tự kết án nó rồi". Người sai đuổi tên ấy ra
ngoài cõi.
Công chúa lấy anh thợ săn. Phò mã cho đón cha mẹ đến để
phụng dưỡng. Cả nhà đoàn tụ êm ấm. Sau khi vua mất, phò mã lên
nối ngôi.
Câu chuyện kể về anh chàng thợ săn tài giỏi và tấm lòng trung
thực của nàng công chúa. Những kẻ gian dối rồi cũng bị lôi ra ánh
sáng, người có công, trung thực sẽ được đền bù xứng đáng.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:40 | IP Logged Trích dẫn halong

Chọn vợ


Một chàng chăn chiên muốn hỏi một trong ba chị em nhà kia
làm vợ. Ba cô đều xinh, anh chàng phân vân mãi, không biết nên
chọn cô nào.
Chàng liền hỏi ý kiến mẹ. Bà bảo:
- Con cứ mời cả ba cô đến ăn. Con đem đặt trước mỗi cô một
miếng phó mát và để ý xem các cô cắt phó mát thế nào.
Chàng nghe lời mẹ.
Chàng thấy cô cả ăn phó mát cả cùi.
Cô hai cắt cùi vội quá, để sót nhiều ruột mà cứ thế vứt đi.
Cô út gọt cùi cẩn thận, không quá dày cũng không quá mỏng.
Chàng chăn chiên kể lại cho mẹ nghe. Mẹ bảo:
- Con nên lấy cô út.
Chàng nghe lời, quả nhiên sống với vợ rất là sung sướng.
Câu chuyện chỉ đơn giản kể về một chàng trai được bà mẹ
mách cho một diệu kế để chàng có thể chọn được một người vợ tử tế.
Nhưng đã nói lên được sự khôn khéo và tế nhị của bà mẹ, đồng thời
ca ngợi tính chăm chỉ, cẩn thận của người con gái.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:41 | IP Logged Trích dẫn halong

Gã thợ xay nghèo khó


Ở một nhà xay bột kia có một bác thợ xay nghèo, không có vợ
con gì cả. Bác có ba gã giúp việc. Ba gã ở với bác được vài năm thì
một hôm, bác bảo họ:
- Ta đã có tuổi nên muốn được ngồi bên lò sưởi nghỉ ngơi.
Chúng mày hãy ra đi, đứa nào kiếm được con ngựa hay nhất mang
về sẽ được hưởng chiếc nhà xay và sẽ phụng dưỡng ta cho đến khi
ta nhắm mắt.
Gã thứ ba vốn là một cố nông đi ở, bị bọn kia coi là ngốc
nghếch, không đáng được hưởng chiếc nhà xay. Mà chính gã ta
cũng chẳng màng tới.
Cả ba cùng ra đi. Gần tới làng, hai gã đầu bảo chú ngốc tên là
Hanxơ:
- Thôi, mày ở lại đây thôi, suốt đời mày chẳng kiếm nổi con
ngựa thổ tả nào đâu.
Nhưng chú Hanxơ cứ đòi đi cùng. Đến đêm, bọn họ tới một cái
hang và ngủ lại đó. Hai gã tinh khôn đợi đến lúc Hanxơ ngủ, thì
dậy lên đường, kệ chú nằm đó, lấy làm đắc sách. - Được, nhưng rồi
bọn bay cũng chẳng ăn thua gì đâu! Lúc mặt trời mọc, Hanxơ tỉnh
giấc, thấy mình nằm trong hang sâu. Chú nhìn quanh rồi kêu la:
"Trời ơi là trời! Mình ở đâu đây?". Chú đứng dậy, loay hoay cố trèo
khỏi cái hang rồi mò vào rừng. Chú nghĩ bụng: "Mình bị bỏ rơi ở
đây một mình, làm sao mà mò cho ra được ngựa!".
Chú vừa đi vừa nghĩ như vậy bỗng gặp một con miu lông đốm
nhiều màu. Miu thân mật gọi chú:
- Chú Hanxơ ơi, chú đi đâu đấy?
- Hừ! Bộ mày giúp gì được tao!
Miu đáp:
- Tôi biết tỏng chú muốn gì rồi. Chú muốn có một con ngựa đẹp
chứ gì. Cứ theo tôi, hầu hạ tôi trung thành trong bảy năm thì tôi sẽ
cho chú một con ngựa đẹp tuyệt trần.
Hanxơ nghĩ bụng:
- Đúng là mèo thần. Nhưng để xem nó nói có thật không.
Mèo đưa chú tới tòa lâu đài bị phù chú của nó. Ở đây có tuyền
mèo con hầu hạ nó. Lũ mèo lên xuống thang gác rất nhanh nhẹn,
lúc nào cũng vui vẻ. Buổi tối, lúc ngồi vào bàn ăn, có ba con chơi
nhạc: một con chơi đàn tiếng trầm, một con kéo vĩ cầm, con thứ ba
phồng mồm thổi kèn. Ăn xong, dọn bàn ghế rồi miu nói:
- Chú Hanxơ ơi! Lại đây nhảy với tôi.
Chú đáp:
- Chịu thôi, tôi không nhảy với mèo đâu. Tôi chưa bao giờ nhảy
như vậy.
Miu bảo lũ mèo con:
- Thôi đưa chú đi ngủ vậy.
Lập tức, một con cầm đèn đưa chú vào phòng ngủ, một con cởi
giầy, một con tháo tất cho chú, rồi một con thổi tắt đèn.
Sáng hôm sau, lũ mèo lại đến giúp chú dậy. Con thì đi tất, con
thì đi giầy, con thì rửa cho chú, con thì lấy đuôi chùi mặt cho chú.
Chú Hanxơ nói:
- Thật là thú vị.
Nhưng dù sao chú vẫn phải hầu hạ con miu và ngày nào cũng
phải chẻ củi. Chú được phát rìu bằng bạc, cưa bằng vàng, chùa
bằng đồng. Chú ở nhà chẻ củi, được ăn uống ngon lành, nhưng
không thấy ai khác ngoài con miu lông đốm nhiều màu và lũ mèo
con hầu hạ. Một hôm, miu bảo chú:
- Chú hãy đi cắt cỏ ở đồng nhà ta rồi phơi khô cỏ đi.
Nói rồi, miu đưa cho chú một chiếc hái bằng bạc và một hòn đá
mài bằng vàng, lại dặn chú trả lại mọi thứ cho tử tế. Hanxơ vâng lời
đi làm ngay. Làm xong việc, chú mang hái, đá mài, cỏ về nhà hỏi
miu xem đã được lĩnh công chưa. Miu đáp:
- Chưa được đâu. Chú còn phải làm một việc nữa đã. Đây có gỗ
xây dựng bằng bạc, chiếc rìu, chiếc thước vuông và các thứ cần thiết
khác đều bằng bạc cả. Chú hãy đi làm cho tôi một ngôi nhà nhỏ đi.
Hanxơ làm nhà rồi bảo mọi việc đã xong mà vẫn chưa được lĩnh
ngựa. Quanh đi quẩn lại, bảy năm đã qua nhanh như chưa đầy sáu
tháng.
Miu hỏi chú có muốn xem ngựa của mình không.
Hanxơ đồng ý.
Miu mở chiếc cửa nhà con. Cửa mở thì thấy mười hai con ngựa.
Trời ôi! Con nào con nấy trông hiên ngang, bóng lộn khiến lòng chú
mừng rơn. Miu cho chú ăn rồi bảo:
- Thôi chú về nhà đi. Tôi không cho chú ngựa đâu. Nhưng trong
ba hôm nữa, chính tôi sẽ đến và mang ngựa cho chú.
Hanxơ liền lên đường. Miu chỉ cho chú đường về nhà xay. Miu
chẳng cho chú được một chiếc áo mới nào, bắt chú vẫn mặc nguyên
chiếc áo ngoài cũ rách bươm mà chú mặc khi mới tới. Qua bảy năm
chiếc áo này đã trở thành quá ngắn.
Chú về nhà thì đã thấy hai gã xay bột kia về rồi. Mỗi tên mang
theo một con ngựa, nhưng một con thì mù, một con thì què. Chúng
hỏi chú:
- Hanxơ, ngựa mày đâu?
- Ba ngày nữa sẽ đến sau.
Chúng cười bảo:
- Hừ! Hanxơ, mày mò đâu ra cho được con ngựa ra hồn cơ chứ.
Hanxơ vào buồng. Bác thợ xay không cho chú ngồi vào bàn ăn
vì sợ chú ăn mặc rách rưới quá có ai vào sẽ bị ngượng mặt. Họ để
riêng cho chú một ít thức ăn. Đến tối đi ngủ, hai tên kia không cho
chú nằm giường, chú đành phải chui vào chuồng ngỗng nằm trên ít
rơm cộm. Sáng dậy thì thấy ba ngày đã trôi qua. Có một cỗ xe sáu
ngựa tới, con nào cũng choáng lộn, trông thật đẹp. Lại có một người
hầu mang đến một con thứ bảy cho chú xay bột nghèo khó. Một
nàng công chúa đẹp tuyệt vời từ trên xe xuống, đi vào nhà xay, đó
là con mèo nhỏ lông đốm nhiều màu mà chú Hanxơ nghèo khó đã
hầu hạ trong bảy năm qua. Nàng hỏi bác thợ xay xem gã học nghề
nhỏ nhất, gã cố nông đi ở, hiện ở đâu. Bác đáp:
- Chúng tôi không dám để nó trong nhà xay vì nó rách rưới
quá. Nó đương nằm ở chuồng ngỗng ấy.
Công chúa truyền cho gọi chú lên ngay.
Bọn họ đi tìm chú đến. Chú phải túm chiếc áo ngoài lại để che
thân. Người hầu liền lấy những bộ quần áo lộng lẫy ra rồi đưa chú
đi tắm rửa, mặc vào cho chú. Công việc xong xuôi thì trông chú đẹp
hơn bất cứ ông hoàng nào.
Sau đó, công chúa đòi xem những con ngựa mà các gã xay bột
kia mang về: một con thì mù, một con thì què. Nàng bảo người hầu
mang con ngựa thứ bảy vào. Bác thợ xay trông thấy bảo là chưa
từng có con ngựa nào đẹp thế bước vào nhà bác. Nàng nói đó là
ngựa của gã xay bột thứ ba.
Bác thợ xay nói:
- Nếu vậy thì chú ấy được hưởng cái nhà xay.
Công chúa bảo là ngựa đã có rồi, còn bác cứ giữ lấy cái nhà xay.
Rồi nàng dắt chú Hanxơ trung hậu lên xe đi thẳng. Hai người đi tới
ngôi nhà nhỏ mà chú đã xây dựng bằng các dụng cụ bằng bạc. Nhà
đó đã biến thành một tòa lâu đài đồ sộ, đồ đạc ở trong tuyền bằng
vàng, bằng bạc. Hai người lấy nhau. Chú Hanxơ trở nên giàu có,
tiền của suốt đời không tiêu hết. Xem thế thì biết chớ nên nói là kẻ
nào có vẻ ngu ngốc thì không làm nên trò trống gì.
Câu chuyện kết thúc rồi mà ngỡ như trong một giấc mơ, phải
không các em? Các em không nên coi thường người khác cho dù
người đó có vẻ ngu ngốc. Trong dân gian có câu: "không biết mèo
nào cắn mỉu nào", câu nói đó thật đúng trong câu trên này, đúng
không nào?

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:42 | IP Logged Trích dẫn halong

Hanxơ sắt


Xưa có một ông vua. Quanh cung điện của vua là một khu rừng
lớn trong đó có đủ các loài dã thú. Một hôm, có một người thợ săn
được vua phái vào rừng để bắn một con nai, nhưng không thấy anh
ta trở về vua bảo:
- Có lẽ hắn gặp tai nạn rồi.
Hôm sau vua sai hai tên thợ săn khác vào rừng để tìm người
thứ nhất, nhưng rồi cũng chẳng thấy ai về. Ngày thứ ba, vua cho
triệu tất cả các thợ săn trong xứ đến bảo:
- Các ngươi hãy đi sục khắp khu rừng tìm ra kỳ được ba người
mới thôi.
Đoàn người đi rồi lại cũng không thấy ai về. Cả đến đàn chó
săn mà họ dắt theo cũng biến đâu hết cả.
Từ hôm đó chẳng ai dám vào rừng nữa. Khu rừng càng thêm
âm thầm hiu quạnh. Họa hoằn mới thấy bóng một con chim ưng,
hoặc một con diều hâu bay ngang qua. Cứ thế cho mãi đến mấy
năm sau mới có một người thợ săn lạ mặt đến yết kiến vua, xin chu
cấp và tình nguyện vào khu rừng nguy hiểm nọ. Nhưng vua không
muốn nhận lời bèn phán:
- Trong đó chẳng an toàn đâu, ta chỉ ngại nhà ngươi sẽ còn phải
gặp chuyện rủi ro hơn cả mấy tên trước nữa, khó mà về thoát được.
Người thợ săn đáp:
- Tâu bệ hạ, xin cứ cho tôi thử một phen. Tôi không sợ đâu.
Người thợ săn dắt chó vào rừng. Đi mới được một lát. Chó tìm
thấy vết thú. Nó muốn lần theo nhưng chưa được mấy bước đã thấy
một cái đầm rất sâu chắn trước mặt, không thể nào đi tiếp được
nữa. Liền đó một cánh tay trần trụi từ dưới nước ngoi lên túm lấy
nó kéo xuống.
Người thợ săn thấy thế quay về ngay. Anh ta lấy thêm ba
người nữa, đem thùng theo định tát cạn cái đầm kia.
Lúc đã nhìn được suốt xuống tận đáy đầm, họ thấy có một
người rừng nằm dài dưới đó, mình hắn toàn bộ màu nâu như sắt gỉ,
tóc phủ qua mắt xõa xuống đến tận đầu gối. Họ lấy thừng trói gô
hắn lại rồi điệu về cung điện.
Nhân dân xôn xao kinh ngạc về người rừng. Vua cho nhốt hắn
vào một cái lồng sắt đựng ở ngoài sân chầu và nghiêm cấm không ai
được mở cửa lồng. Kẻ trái lệnh sẽ bị tử hình và hoàng hậu thân giữ
chìa khóa. Từ hôm đó, mọi người lại có thể yên tâm vào rừng.
Vua có một Hoàng tử lên tám tuổi. Một hôm, Hoàng tử đương
chơi bóng ngoài sân bỗng quả bóng vàng lăn vào trong cái lồng.
Hoàng tử chạy theo đòi:
- Trả lại bóng cho ta đây.
Người rừng đáp:
- Hãy mở cửa cho ta rồi ta sẽ trả.
Hoàng tử nói:
- Không được, điều đó thì không được, cha ta đã có lệnh cấm.
Nói xong, Hoàng tử chạy đi. Nhưng hôm sau, Hoàng tử lại đến
đòi quả bóng. Người rừng lại dỗ:
- Mở cửa cho ta.
Hoàng tử không chịu. Ngày thứ ba, giữa lúc vua đi săn vắng,
Hoàng tử lại tới bảo:
- Cho dù ta có muốn cũng chẳng mở được, vì ta không có chìa
khóa.
Người rừng đáp:
- Chìa khóa ở dưới gối mẹ mi ấy, vào đó mà lấy.
Hoàng tử còn nhỏ tuổi, muốn lấy lại quả bóng quá, không kịp
suy nghĩ chạy vào lấy luôn chìa khóa đem ra. Mở mãi mới được cái
cửa, hoàng tử lại bị kẹp một ngón tay. Cửa mở rồi, người rừng bước
ra, trả cho hoàng tử quả bóng rồi đi thẳng. Chú bé hoảng sợ, kêu
gọi ầm ĩ:
- Trời, người rừng ơi, đừng đi, ta sẽ bị đòn mất thôi.
Người rừng bèn quay lại, bế bổng Hoàng tử lên vai, rảo bước đi
vào rừng.
Lúc vua về nhà, thấy cái lồng trống không, vội hỏi hoàng hậu
xem sự thể thế nào. Hoàng hậu vẫn chưa biết chuyện mới đi tìm
chìa khóa thì chìa khóa đã mất. Hoàng hậu vội lên tiếng gọi con,
không thấy ai trả lời. Vua sai người ra ngoài thành tìm mà không
thấy. Vua đoán biết là có chuyện gì rồi. Trong triều, không khí nặng
nề buồn bã.
Lúc người rừng đã vào tới quãng rừng sâu rồi. Hắn đặt chú bé
xuống đất mà bảo chú:
- Mi sẽ không được thấy lại bố mẹ nữa đâu. Tuy vậy ta sẽ giữ
mi ở với ta, ta thương mi vì chính mi đã giải thoát cho ta. Mi cứ
theo đúng lời ta dặn thì sẽ được đối đãi tử tế. Vàng ngọc ở đây
không thiếu, ta có nhiều của cải hơn bất kỳ ai trên thế gian này.
Người rừng dọn cho chú bé một ổ rêu làm chỗ ngủ. Hôm sau,
hắn dẫn chú bé đến một cái giếng và bảo:
- Này, cái giếng vàng này sáng và trong như pha lê ấy. Nhiệm
vụ của mi là ngồi đây mà canh, không được để cho một thứ gì rơi
xuống đó, bằng không, giếng sẽ mất thiêng. Cứ chiều chiều ta sẽ
đến xem mi có làm đúng lời dặn không? Chú bé ngồi bên cạnh
giếng, chốc chốc lại thấy một con cá vàng hoặc một con rắn vàng
xuất hiện dưới đó. Chú cũng để ý giữ, không cho bất kỳ thứ gì rơi
xuống giếng.
Nhưng ngồi được hồi lâu, ngón tay bị kẹp đột nhiên đau dội lên,
chú vô tình nhúng nó xuống nước. Chú vội rút lên thật nhanh, song
ngón tay đã bị phủ toàn vàng mất rồi, chú ra sức lau mà không tài
nào sạch được.
Chiều tối. Hanxơ sắt - tên người rừng, đến nhìn chú bé hỏi:
- Có chuyện gì xảy ra ở giếng thế?
Chú bé đáp:
- Không, không.
Chú cố giấu ngón tay ra sau lưng cho người rừng khỏi thấy.
Nhưng người rừng đã bảo chú:
- Mi đã nhúng ngón tay xuống nước rồi. Lần này ta tha, song
mi cứ liệu, không được để bất kỳ cái gì rơi xuống nước nữa nhé!
Hôm sau, mới mờ sáng, chú bé đã trở dậy ra ngồi cạnh giếng.
Ngón tay lại đau, chú vuốt nó lên đầu cho dịu đi. Không may có một
sợi tóc đứt rơi đúng xuống giếng. Chú vội nhặt lên nhưng đã muộn,
sợi tóc đã chói một màu vàng.
Hanxơ sắt đến, biết ngay là có chuyện
- Mi lại để một sợi tóc rơi xuống giếng rồi. Phen này ta bỏ qua
cho mi, nhưng nếu còn để xảy ra chuyện đến lần thứ ba, cái giếng
kia mất thiêng đi, mi sẽ không còn được ở đây với ta nữa.
Ngày thứ ba, chú bé ngồi bên giếng, ngón tay vẫn đau lắm mà
không dám động đậy. Nhưng rồi ngồi yên mãi cũng chán, chú mới
cúi xuống soi bóng mình dưới lòng giếng. Cúi mãi, cúi mãi, chú cứ
muốn soi cho thật rõ, bất đồ cả mái tóc dài của chú từ hai vai xõa
xuống nhúng ngay vào nước. Chú vội đứng thẳng lên thật nhanh,
song muộn mất rồi, cả mớ tóc đã nhuốm vàng, rực rỡ như vầng
hồng. Chú khiếp đảm quá, rút khăn tay buộc lên đầu cho người
khác khỏi nhìn thấy.
Lúc Hanxơ sắt đến, hắn đã biết hết chuyện xảy ra nên bảo chú:
- Cởi cái khăn ra.
Tức thì những sợi tóc vàng thì nhau rủ xuống, chú bé ra sức
kêu xin nhưng cũng vô ích.
- Mi đã không vượt qua được cơn thử thách nên không thể ở lại
đây được nữa đâu. Giờ mi hãy đi ở với thiên hạ thôi. Mi sẽ biết thế
nào là cảnh khổ. Song vì mi không có ác tâm và ta cũng mến mi nên
ta cho phép mi một điều. Lúc nào gặp khó khăn, mi cứ vào rừng gọi:
"Hanxơ sắt", ta sẽ tới cứu mi. Quyền lực của ta rất lớn, lớn hơn mi
tưởng nhiều: vàng, bạc ta đều có thừa.
Hoàng tử từ biệt khu rừng đó, cứ chiếu thẳng đường mà đi, đến
một thành phố lớn. Hoàng tử định tìm việc làm nhưng không có, vả
chăng bản thân cũng chưa từng học nghề gì để có thể kiếm ăn. Sau
cùng, hoàng tử đến thẳng cung vua hỏi xem có ai muốn mướn
chàng hay không. Triều thần không biết dùng chàng vào việc gì
nhưng vì mọi người đều mến chàng nên giữ chàng lại. Chàng được
giao việc phụ bếp, ngày ngày khuân củi, xách nước, quét tro. Một
hôm, vì không tìm được ai khác, người đầu bếp sai chàng bưng thức
ăn lên dâng vua. Chàng không muốn để lộ mớ tóc vàng nên cứ đội
nguyên cả mũ mà vào hầu.
Vua chưa từng gặp chuyện vô lễ như thế bao giờ, quở ngay:
- Mi mang thức ăn vào dâng vua thì phải bỏ mũ ra.
Chàng đáp:
- Tâu hoàng thượng, tiếc rằng thần không thể làm thế được,
thần bị bệnh chốc đầu.
Vua bèn cho gọi ngay người đầu bếp tới, quở hắn sao dám
mướn một kẻ như thế giúp việc. Vua hạ lệnh phải đuổi chàng đi
ngay tức khắc. Người đầu bếp thương chàng, không nỡ đuổi, cho đổi
việc với gã coi vườn.
Từ đó, ngày ngày Hoàng tử trồng cây, tưới cây, xới đất, đào đất
ở ngoài vườn chẳng quản gió mưa.
Trời đã sang hè, một hôm đương lúc mải làm, oi bức quá, chàng
bỏ mũ cho mát. Ánh nắng rọi vào mớ tóc sáng rực, tia vàng phản
chiếu lọt vào đến tận phòng riêng của công chúa. Nàng nhỏm dậy,
ra xem có chuyện gì lạ. Tức thì nàng thấy chàng trai, liền gọi lại:
- Này chàng kia, hãy mang lại đây cho ta một bó hoa.
Hoàng tử vội vã đội ngay mũ lên đầu, bó một bó hoa đồng mang
lại. Chàng đương lên thang thì gặp người coi vườn bảo:
- Sao dâng hoa lên công chúa lại dám lấy rặt những giống hoa
dại này? Xuống lấy bó khác ngay đi, chọn những giống hoa đẹp nhất
và hiếm nhất ấy.
Chàng đáp:
- Không đâu, chính hoa dại lại thơm hơn, chắc chắn công chúa
sẽ thích hơn.
Lúc chàng bước vào phòng, công chúa bảo chàng:
- Bỏ mũ xuống đi, đứng trước mặt ta mà đội mũ là không được.
Chàng lại đáp:
- Bẩm, thần không dám, vì thần bị chốc đầu.
Nhưng công chúa giơ tay nhấc luôn cái mũ khỏi đầu chàng. Tức
thì mái tóc vàng kia rủ xuống đến tận vai chàng, nom rất đẹp mắt.
Chàng định bỏ chạy, công chúa kéo tay chàng lại, cho chàng một
nắm tiền vàng. Chàng cầm tiền đi ra. Nhưng vì chàng chẳng thiết
vàng nên đem lại cho người coi vườn, và bảo:
- Tôi gửi tặng các cháu nhỏ đây, để chúng làm đồ chơi.
Hôm sau, công chúa lại sai chàng đi hái một bó hoa đồng.
Chàng cầm bó hoa vừa bước qua cửa phòng, công chúa đã vội giật
cái mũ định lấy. Chàng nắm cả hai tay giữ chặt mũ lại. Công chúa
lại cho chàng một nắm tiền vàng và lần này chàng vẫn không muốn
giữ tiền, đem cho người coi vườn mang về cho con chơi.
Ngày thứ ba cũng như hai ngày trước. Công chúa vẫn không
lấy được mũ. Chàng cũng không muốn lấy vàng của công chúa.
Ít lâu sau, xứ có giặc. Vua cho gọi trăm họ lại. Chính vua cũng
chưa biết liệu rồi có chống cự nổi hay không. Thế giặc mạnh lắm,
chúng có một đạo quân rất lớn.
Chàng coi vườn tâu vua:
- Thần cũng đã trưởng thành, nên muốn được đi tòng chinh,
xin hãy ban cho thần một con ngựa.
Những người khác thấy thế đều cười rộ lên mà rằng:
- Hãy chịu khó đợi cho bọn ta kéo đi hết đã rồi hãy vào tầu
ngựa mà chọn, bọn ta sẽ để lại cho một con.
Khi mọi người đã kéo đi hết cả rồi, chàng vào dắt ngựa ra thì
thấy đó là một con ngựa què, khập khiễng bước cao bước thấp. Tuy
vậy, chàng cũng vẫn lên ngựa, phóng vào rừng sâu. Đến bên cạnh
rừng rồi, chàng cất tiếng gọi ba lần: "Hanxơ sắt!". Tiếng gọi đập vào
rừng cây nghe vang dội.
Tức thì người rừng hiện ra hỏi:
- Mi muốn gì?
- Ta muốn có một con ngựa chiến thật khỏe để đi đánh giặc.
- Được, mi sẽ có ngựa và còn nhiều hơn thế nữa.
Người rừng quay trở vào. Chỉ một lát sau, đã thấy có người coi
ngựa dắt một con ngựa chiến từ trong rừng đi ra. Lỗ mũi con vật
thở phì phì tưởng chừng rất khó điều khiển được nó. Sau con ngựa
là cả một đám quân lính mũ sắt giáp sắt, lưỡi kiếm sáng ngời dưới
ánh nắng.
Chàng trai trao con ngựa què lại cho người lính coi ngựa, nhảy
lên con chiến mã rồi vượt lên cả đoàn quân. Lúc chàng tiến tới gần
chiến trường thì bên nhà vua đã bị chết nhiều người và đang sắp
phải rút lui. Chàng liền thúc đoàn quân đầy đủ áo giáp và mũ trụ,
như một cơm lốc đánh thốc vào giữa quân giặc, đập tan hết thảy
mọi sức kháng cự. Giặc định rút chạy nhưng không kịp, chàng trai
đã tiến sát sau lưng chúng rồi và chàng cứ thúc quân đánh, đánh
mãi kỳ cho đến lúc không còn một tên giặc nào sống sót. Nhưng sau
đó chàng chẳng quay về chỗ vua mà lại dẫn quân theo đường tắt trở
lại khu rừng cũ, gọi Hanxơ sắt.
Người rừng hỏi:
- Mi muốn gì?
- Nhận lại ngựa của mi đi, trả lại cho ta con ngựa què.
Mọi việc xảy ra sau đó như ý muốn của chàng. Chàng cưỡi con
ngựa què trở về.
Lúc vua về đến cung điện, công chúa ra mừng thắng trận.
Vua nói:
- Không phải do ta đánh thắng trận, đó là công của một người
kỵ sĩ lạ mặt đã đem quân đến giúp ta.
Công chúa hỏi người kỵ sĩ đó là ai, nhưng chính vua cũng
không biết, nên vua chỉ nói:
- Người ấy còn mải đuổi theo quân giặc, nên ta cũng chưa được
gặp lại.
Công chúa bèn hỏi thăm người coi vườn về tin tức chàng trai
nọ. Bác ta cười mà thưa rằng:
- Gao cưỡi một con ngựa què vừa về đến nhà xong.
Mọi người đều giễu cợt và bảo:
- Anh chàng tập tễnh về kia rồi.
Họ còn hỏi mỉa gã:
- Này, suốt thời gian vừa rồi, cậu rúc vào ngủ ở xó nào đấy?
Nhưng gã chỉ ôn tồn đáp: "Ta đã làm hết sức mình, không có ta
có lẽ đất nước đã nguy rồi", khiến mọi người cười ầm lên.
Đức vua phán bảo con gái:
- Ta định báo là sẽ mở hội lớn trong ba ngày liền. Nhân dịp ấy
con sẽ ném một quả táo bằng vàng, biết đâu chàng kỵ sĩ lạ mặt kia
không lại.
Sau khi biết tin, chàng trai vội vào rừng gọi Hanxơ sắt.
Gã hỏi:
- Mi muốn gì?
- Ta ước mong sẽ bắt được quả táo vàng của công chúa.
Hanxơ sắt đáp:
- Được, chắc mi sẽ toại nguyện, nhưng mi phải nhớ mặc một bộ
giáp đỏ và cưỡi một con ngựa hồng thật oai phong.
Đến ngày hội, chàng trai cưỡi ngựa tới, đi lẫn vào trong đám kỵ
sĩ mà không ai nhận ra được chàng, công chúa bước ra nhằm phía
các kỵ sĩ mà ném quả táo vàng. Chàng bắt ngay được rồi thúc ngựa
phóng luôn đi mất.
Ngày thứ hai, Hanxơ sắt cho chàng một bộ áo giáp bạc trắng
với một con ngựa bạch. Chàng bắt được quả táo và lại thúc ngựa
phóng đi mất.
Đức vua giận lắm phán:
- Không thể được, hắn phải ra chầu trước mặt ta để ta hỏi tên
họ.
Vua ra lệnh:
- Kỵ sĩ nào bắt được quả táo mà bỏ chạy sẽ bị đuổi theo, nếu
không tự ý quay lại sẽ bị đâm chết.
Đến ngày thứ ba, chàng trai được Hanxơ sắt cấp cho một bộ áo
giáp đen với một con ngựa ô. Chàng lại bắt được quả táo. Lúc chàng
bỏ chạy, đám quân sĩ của nhà vua hò nhau đuổi theo. Có một người
đuổi rất sát, liền chém một nhát, mũi kiếm lướt ngang chân chàng
khiến chàng bị thương. Chàng chạy thoát nhưng vì con ngựa phải
nhảy dữ quá, chiếc mũ trụ của chàng bị tuột khỏi đầu rơi mất, mọi
người đều trông thấy mái tóc vàng rực. Họ quay ngựa về nói lại cho
vua biết.
Hôm sau, công chúa hỏi thăm người coi vườn về chàng trai.
- Gã ta đang làm ở ngoài vườn. Thế mà gã ta cũng đi dự hội
đấy, mãi tối qua mới về. Gã có cho các cháu nhà tôi xem ba quả táo
vàng mà gã bắt được.
Vua cho đòi chàng. Chàng vào hầu, đầu vẫn đội mũ. Nhưng
công chúa đã bước tới bỏ chiếc mũ xuống. Tức thì mái tóc vàng rủ
xuống đến tận vai, đẹp quá, mọi người đều phải kinh ngạc.
Vua hỏi:
- Có phải chính ngươi là người kỵ sĩ đến đám hội mỗi ngày
trang phục một màu và đã bắt được ba quả táo vàng đó không?
Chàng đáp:
- Dạ thưa chính thần đó ạ, và đây là ba quả táo.
Chàng móc túi lấy ba quả táo dâng lên vua:
- Nếu như hoàng thượng còn đòi thần phải có vật chứng gì khác
nữa thì xin hãy xem vết thương đây. Thần đã bị thương trong lúc bị
đám quân sĩ đuổi. Nhưng thần cũng chính là người kỵ sĩ đã giúp
hoàng thượng chiến thắng quân giăc bữa trước đó.
Vua phán:
- Ta thấy rồi, ta chịu ơn nhà ngươi, ta có thể làm gì để ngươi
vui lòng.
Chàng đáp:
- Tâu hoàng thượng, thần chỉ xin được cùng công chúa kết
duyên.
Công chúa cười mà rằng:
- Chàng thật không biết úp mở chút nào.
Nàng tiến lại ôm hôn chàng.
Hôm cử hành hôn lễ, cả cha mẹ chàng cũng đến, hai người rất
vui mừng vì họ đã mất hy vọng gặp lại con từ lâu lắm rồi. Vừa lúc
mọi người ngồi vào bàn tiệc xong, bỗng thấy ngừng tiếng nhạc, cửa
lớn mở ra, một vị hoàng đế oai phong lẫm liệt bước vào, theo sau
không biết bao nhiêu là người hầu. Vị hoàng đế ấy bước thẳng đến
chỗ chàng trai, ôm chàng bảo:
- Ta chính là Hanxơ sắt đấy. Ta đã bị phù phép biến thành một
người rừng nhưng con đã giải thoát cho ta. Từ nay mọi thứ của cải
mà ta có đều thuộc về con.
Câu chuyện giúp các em hiểu về tình nghĩa của con người đối
với nhau. Chính sự giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn đã giải thoát
được cả bùa mê và phù phép.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 
halong
Thành viên năng nổ
Thành viên năng nổ
Avatar

Ngày gia nhập: 12/10/05
Giới tính:
Trạng thái:
Bài viết: 41
Tiền: 82$
Địa chỉ e-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 28/06/85
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 09/10/06 lúc 10:43 | IP Logged Trích dẫn halong

Hai ông cháu


Xưa có một ông cụ già nua tuổi tác, mắt mờ, tai nặng, chân tay
run lẩy bẩy. Khi ngồi ăn, cụ cầm thìa không vương, đánh đổ xúp ra
khăn bàn; xúp rơi ra cả ngoài miệng. Con trai và con dâu thấy thế
không thích, đuổi cụ ra ngồi một xó sau lò sưởi và lấy thức ăn vào
bát sành cho cụ ăn. Mà nào có cho cụ ăn no! Mỗi khi cụ liếc mắt về
phía bàn ăn, cụ lại rầu rầu nét mặt, rơm rớm nước mắt.
Một hôm cụ run tay, đánh rơi cái bát xuống đất, bát vỡ tan. Cô
nàng dâu mắng nhiếc cụ, nhưng cụ chỉ nín lặng, thở dài. Chị ta
mua cho cụ cái bát khác bằng gỗ chỉ đáng vài xu. Từ đó, cụ phải ăn
bằng chiếc bát ấy.
Cách đó ít lâu hai vợ chồng thấy đứa con trai lên bốn tuổi ngồi
ghép mấy mảnh gỗ ở dưới đất.
Bố hỏi con:
- Con làm gì đấy, con?
Đứa bé đáp:
- Con làm cái bát để cho bố mẹ ăn khi con lớn lên.
Nghe con nói, hai vợ chồng lặng lẽ nhìn nhau một lúc, rồi cùng
òa lên khóc đưa ông cụ lên ngồi ở bàn. Thế là từ đó, họ lại để cụ
ngồi ăn cùng bàn, nhỡ ông cụ có đánh đổ ít xúp ra bàn cũng chẳng
nói gì nữa.
Câu chuyện cho ta thấy một điều rõ ràng là: "nước mắt chảy
xuôi". Bố mẹ nào cũng yêu con mình nhất. Nếu con cái đối xử không
đúng với bố mẹ già thì khi về già con cái sẽ đối xử lại như thế.

Lên trên Xem halong's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của halong
 

Nếu bạn muốn trả lời thì trước tiên bạn phải đăng nhập
Nếu chưa đăng ký thì bạn hãy đăng ký

<< Prev Trang of 2
  Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Mục lục
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn




Nội dung và quan điểm của những bài viết trên trang web này thuộc về tác giả. Vinanet.dk không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như quan điểm của bài viết.
Email: Vinanetadmin@gmail.com
 

  HOT LINKS       

Benzinpriser
Akut-hjælp
Midttrafik
Linkworld.dk
Valuta   Tỷ giá
Bilbasen
Århus.dk
Home.dk
Borger.dk
Boligportal.dk
Guide.dk
Den Blå Avis
TV-Guide
GulOgGratis
Bibliotek
TestDinHastighed
Postdanmark
DenDanskeBank
Finfo
Team viewer
DivShare
CountryCodes
TV other languages
Dailigmotion
Time-Weather
Ebay
Youtube
Imageshack
eTilbudsavis
Veoh.com
4shared
Scribd
Keepvid
Archive.org
Authorstream
Esnips
Unikey 4.0
PhôngChữ
MediaFire
Video4Viet
TV CôngGiáo
Hyperfileshare
VieTVusa
LittleSaigonTV
VietPho TV
3D album
TV PhậtGiáo
Rapidshare
NCT     mp3.zing
Tixpod