Thứ năm, 8/4/2016, 13:13:19 GMT+7
Văn học miền nam Việt Nam từ sau Tự Lực Văn Đoàn đến 30.04.1975 - Nguyễn Trọng Lưu
 

Thế kỷ 20 - với Tự Lực Văn Đoàn (viết tắt TLVĐ) - thực sự đã là một cuộc cách mạng trong lịch sử văn học Việt Nam - bởi trước đó chúng ta có nền văn học phỏng theo mô hình Trung Hoa, gói ghém trong hai phạm trù ”thuật nhi bất tác” và ”văn dĩ tải đạo”. Nhưng với nhóm TLVĐ


Văn học miền nam Việt Nam

từ sau Tự Lực Văn Đoàn đến 30.04.1975

 

Nguyễn Trọng Lưu

 

 

(Bài nói chuyện tại Tilst Bibliotek, 02.04.2016 - tiếp theo bài ”Tự Lực Văn Đoàn”: một cuộc cách mạng trong lịch sử văn học Việt nam”, Tilst Bibliotek, 26.09.2015)

 

 

Thế kỷ 20 - với Tự Lực Văn Đoàn (viết tắt TLVĐ) - thực sự đã là một cuộc cách mạng trong lịch sử văn học Việt Nam - bởi trước đó chúng ta có nền văn học phỏng theo mô hình Trung Hoa, gói ghém trong hai phạm trù ”thuật nhi bất tác”  ”văn dĩ tải đạo”. Nhưng với nhóm TLVĐ, văn học Việt nam lại chuyển mình theo mô hình văn hóa phương Tây, khá hoàn chỉnh cho tới khoảng năm 1945. Những năm từ 1945-1954 đất nước chúng ta bị giập vùi trong chiến tranh mà kết đỉnh là hiệp định Genève ngày 21.07.1954 cắt chia đất nước thành miền bắc (theo chế độ cộng sản) và miền nam (theo chế độ tự do), lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới.

 

Cũng vì thế mà văn học Việt Nam bị phân chia thành hai mạch: văn học miền bắc, dưới sự lãnh đạo độc tài của đảng cộng sản, đôi khi tiếp cận với Trung Cộng và Nga, luôn luôn cô lập với thế giới bên ngoài mà do vậy không còn tính chất sáng tạo và nhân bản - trong khi đó văn học miền nam được triển nở và vươn lên tuyệt đỉnh của tự do sáng tạo, cùng đồng hành với toàn thế giới tự do.

 

 

Chữ quốc ngữ và việc tiếp cận với văn hóa nước ngoài tại miền Nam

 

Trước khi tìm hiểu chỗ đứng và sự phát triển của văn học miền Nam từ 1954 đến 1975, chúng ta hãy nhìn lại sự hình thành và phát triển văn học quốc ngữ tại miền Nam vào đầu thế kỷ 20.

 

Chữ quốc ngữ được xử dụng về mặt hành chánh - ở trong Nam trước - vì người Pháp chiếm Nam Kỳ trước (1862) và họ thúc đẩy việc dùng quốc ngữ trong Nam. Một mặt khác, nhờ sự tiếp xúc với  người Pháp và văn học Pháp, người Nam cũng hấp thụ được tinh thần dân chủ của Pháp qua ngả học đường và sách vở báo chí Pháp. Những trí thức tây học đầu tiên như Huỳnh Tịnh Của(1834-1897), Trương Vĩnh Ký (1837-1898), đều thấm nhuần hai nền giáo dục: từ thuở nhỏ, học chữ nho, sau đó được các Linh Mục thừa sai đưa vào trường công giáo học tiếng La tinh và tiếngPháp, rồi lại được đi du học ở Cao Mên, Mã Lai. Trương Vĩnh Ký biết tới 15 ngoại ngữ và 11 tử ngữ và là nhà bác ngữ học (philologue) và Việt học đầu tiên của nước ta. Bộ từ điển tiếng Việt"Đại nam quốc âm tự vị" do Huỳnh Tịnh Của soạn năm 1893, cũng là một trong những viên gạch đầu tiên xây dựng nền văn học quốc ngữ.

 

Tờ báo quốc ngữ đầu tiên là tờ Gia Định Báo, do Pháp lập năm 1865, với chủ bút Trương Vĩnh Ký, rồi Huỳnh Tịnh Của - tiếp đó là tờ Nam Kỳ Nhật Trình (21.10.1897), Nông Cổ Mín Đàm(01.08.1901), Lục tỉnh tân văn (15.01.1907). Theo tài liệu của Nguyễn Văn Trung (trong Lục Châu Học, 1969), cuốn tiểu thuyết quốc ngữ sớm nhất viết theo lối tây phương - cuốn “Thày Lazzaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản, xuất hiện ở trong Nam ngay từ 1887 và bản dịch “Tam Quốc Chí” đầu tiên, cũng được đăng trên Nông Cổ Mín Đàm, số đầu tiên.

 

Như vậy miền Nam đã có truyền thống quốc ngữ lâu đời, và chính tiếng Nam cũng lại là một nguồn ngôn ngữ đa dạng, đầy âm thanh và màu sắc, nên nhiều người đã dựa vào kho tàng mới này để làm giàu thêm cho ngôn ngữ văn chương của mình.

 

Có thể nói nhờ ba yếu tố: dựa trên nền móng chữ quốc ngữ từ đầu thế kỷ 20, cộng thêm tiếng Nam như một kho tàng ngôn ngữ mới; nhờ sự bảo tồn văn học tiền chiến và bảo quản Nhân Văn Giai Phẩm trong thời kỳ chia đôi đất nước mà miền Nam không bị cắt đứt với quá khứ và hiện tại văn học của cả nước; và nhờ nối kết với các trào lưu văn học và tư tưởng nước ngoài - mà văn học của miền Nam Việt Nam được triển nở mạnh mẽ.

 

Thêm vào đó, một nền văn học - muốn phát triển mạnh - ngoài yếu tố nhân tài và môi trường dân chủ, còn cần đến một nền giáo dục lành mạnh. Trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng, miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục rất khai phóng và vững chắc.

 

Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên lệch mà cũng không bị bóp méo theo ý thức hệ chính trị.  bậc trung học, học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn học và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy. Các đại học được tự trị mà nhờ đó các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả - giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối tượng chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như những biến cố xảy ra dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm liên quan đến Phật Giáo và việc đấu tranh chống tham nhũng - như vụ báo Sóng Thần - dưới thời Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.

 

Trong nửa đầu thế kỷ 20, nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam, nhờ xuất thân từ các trường Pháp (Albert Sarraut), hoặc Pháp-Việt (trường Bưởi) tại Hà Nội - nên thông thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt, có khi còn thêm kiến thức Hán văn nữa, nhờ vậy họ đã tiếp cận trực tiếp với văn học Tây Phương.

 

Sau 1954, ở miền Nam, tuy các trường Pháp Việt không còn nữa nhưng vẫn còn trường Pháp. Nhờ hệ thống học đường song song này mà miền Nam vẫn có thể đào tạo những văn nghệ sĩ và dịch giả rất sáng giá - tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh (1884–1958)  Trịnh Công Sơn (1939-2001).

 

Ngoài ra cũng có nhiều nhà văn, nhà biên khảo, nhà giáo thường làm công việc dịch thuật bên cạnh. Tưởng nên nhắc đến học giả Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) - với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế - mà có lẽ rất nhiều người trong chúng ta đã nghe biết hoặc đã đọc - nổi tiếng với những bộ sách “Học làm người” và bộ tiểu thuyết dịch “Chiến tranh và hòa bình” của nhà văn Nga Lev Nikolaevič Tolstoj.

 

Chương trình Pháp cũng đã đào tạo nên những trí thức văn nghệ sĩ tài năng trong nhiều thế hệ, như Cung Trầm Tưởng (sanh năm 1932) -  với một lối cổ dao, giao hưởng giữa thơ cổ của ta và tư tưởng hiện sinh, dựa trên thể thơ lục bát; Nguyên Sa (1932-1998 - tên thật là Trần Bích Lan) - một giáo sư triết mà cũng là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như "Áo lụa Hà Đông", "Paris có gì lạ không em", "Tuổi mười ba", "Tháng Sáu trời mưa". Lời ca của Trịnh Công Sơn đặt nền trên triết học hiện đại, gói ghém tang thương của lịch sử trong cách lập hình siêu thực.

 

Học đường còn đào tạo một lớp người đọc nữa. Những sáng tác mới, có tính cách khó hiểu hoặc những tác phẩm được gọi là "có trình độ cao", vẫn có người đọc. Võ Phiến (1925-2015) kể rằng cuốn "Triết học hiện sinh" của Trần Thái Đỉnh, ra đời năm 1967, là cuốn sách bán chạy nhất trong năm.

 

Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Khắc Dương cùng với Linh Mục Bửu Dưỡng là những khuôn mặt đã có công lớn trong việc trình bày triết học hiện đại Tây Phương ở miền Nam, còn về triết Đông, bên cạnh những sách lý thuyết củaNghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Đăng Thục, thì Nguyễn Hiến Lê là người có công đầu trong việc truyền bá kiến thức đại cương về văn học và phổ biến rộng rãi triết học Đông phương trong quần chúng. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, hoạt động của các chuyên gia Đông Phương Học - đã giảng dạy tại nhiều Đại Học Văn Khoa - như Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần, Linh Mục Kim Định và Thượng Tọa Nhất Hạnh - hoạt động từng vượt khỏi tháp ngà Đại Học để đi vào thế giới học thuật và văn nghệ miền Nam.

 

Vào những thập niên 70, triết học phương Tây tương đối phát triển mạnh ở miền Nam. Đó chỉ là dư âm và di sản của thời hậu chiến Âu Châu. Một khi đã phải kinh qua một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng, đứng trước đau thương, đổ nát và hư vô, con người thường tìm tư duy trong những triết thuyết. Một số triết gia như Trần Đức Thảo, đã hành hương về với triết học hiện tượng luận của Edmund Husserl (1859-1938)  Martin Heidegger (1889-1976) và với triết lý hiện

sinh, biểu trưng với Jean-Paul Sartre (1905-1980), Simone de Beauvoir (1908-1986), Merleau Ponty (1908-1961). Triết lý hiện sinh này phát triển mạnh ở các đại học Pháp, đặc biệt ở thị thành với giới trí thức và thanh niên.

 

Khi sang đến Việt Nam, đang trong hoàn cảnh chiến tranh, tâm trí bị hoang mang, chán nản và mất hướng, nên tư tưởng triết học hiện sinh nẩy nở rất mạnh. Nhất là lúc đó, từ nửa sau thập niên 50, có một số trí thức Việt Nam du học ở Pháp  Bỉ, khi về nước đã phổ biến các triết thuyết hiện sinh này song song với ”thuyết phi lý - théorie de l''''absurde” của Albert Camus, cùng với ”trào lưu nhân vị - personnalisme”, của E. Mounier, một hệ tư tưởng được bồi đắp và đề cao đặc biệt do ÔngNgô Đình Nhu, bào đệ của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tiếp sau đó là ”trường phái cơ cấu luận - structuralisme” của Roland Barthes  Lévy-Strauss và môn phái ”Déconstruction” củaDerrida. Đó là chưa kể đến những lý thuyết và thể hiện văn nghệ như ”tân tiểu thuyết” (A. Robbe-Grillet, N. Sarraute, Cl. Simon)  “Tân phê bình” (Poulet, Barthes, J.P. Richard, Weber)

 

Một số giáo sư đã đưa triết học Ấn Độ vào miền Nam Việt Nam như Linh mục Hoành Sơn Hoàng Sĩ Quý (dòng tên) và Linh mục Thiện Cẩm (dòng Đa Minh). Cả hai đều đã giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Saigon và Đại Học Thụ Nhân Đà lạt.

 

 

Những nét đặc trưng của văn học Việt Nam

 

Văn học miền Nam là một nền văn học lớn và đa dạng ở nhiều khía cạnh, từ sáng tác, nghiên cứu phê bình, dịch thuật với những nhà văn tiêu biểu, có công khai phá kỹ thuật mới lạ, phong cách hay và độc đáo, mang đầy đủ tính chất nhân bản - đã từng các được giáo sư Neil L. Jamieson, từ đại học George Mason và Jean Claude Pomonti (sanh năm 1940) ca ngợi qua các cuốn“Understanding VietNam” (1993)  và cuốn “La rage d’être Vietnamien” (1974).

 

Đặc điểm chính của nền văn học miền Nam từ 1954-1975, là đã thoát khỏi văn học thế kỷ 19, giã từ lãng mạng tiền chiến để trình bày con người là sinh vật cô đơn trong một thế giới phi lý.  Các nhà văn đã xây dựng tư tưởng của mình trên nền triết học hiện đại, đưa con người về hướng tìm hiểu chính mình.

 

Triết học hiện sinh xuất hiện dưới nhiều hình thức: từ phòng trà tửu quán, ăn chơi, bụi đời, là từng thấp nhất, còn ở mức cao hơn, nó hậu thuẫn cho tác phẩm: con người quay về khảo sát chính mình, nhận thức chính mình, với những nhân vật của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu. Cách mô tả của các tác giả này cho thấy cách dùng phương pháp hiện tượng luận trong mổ xẻ và phân tích. Để áp dụng tư tưởng triết học vào thực tế văn học một cách vừa phải, dễ hiểu, đã có các ngòi bút như Nguyên Sa, vừa là giáo sư triết vừa là nhà thơ, như Nguyễn Văn Trung vừa là giáo sư đại học vừa viết sách triết học và phê bình văn học. Quan niệm dấn thân của Jean-Paul Sartre, qua Nguyễn Văn Trung, đã thâm nhập vào đời của giới trẻ. Cuốn "Ca tụng thân xác" của Nguyễn Văn Trung cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến các nhà văn phụ nữ trong lối viết mạnh bạo về thân xác của họ. Kịch của Vũ Khắc Khoannói lên khía cạnh phi lý trong đời sống. Thanh Tâm Tuyền trong thơ tự do, khai phá vùng tiềm thức con người bằng những cách tạo hình mới lạ. Truyện củaDương Nghiễm Mậu đào sâu cái trống rỗng ghê ghớm trong hiện sinh con người, bị tha hoá trong chiến tranh và nhược tiểu. Mai Thảo vẽ lại một thời kháng chiến đầy ảo tưởng, và tạc những bộ mặt hư vô, chán chường, sống vật vờ trong say sưa, nơi vũ trường thành thị. Võ Phiến đào sâu xuống những mất mát của con người khi phải bứt khỏi nguồn cội, tra khảo vùng bản năng sâu kín của tính dục. Phan Nhật Nam trình bày những bi đát của đời lính, những kẻ cầm súng bắn vào quê hương mình. Bình Nguyên Lộc tìm về nguồn cội của dân tộc di dân từ Bắc vào Nam, chiếm hữu đất đai của người Chàm, người Chân Lạp, tìm sống trong rừng đước, rừng mắm, vươn lên từ hai yếu tố cơ bản: đất và nước. Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương, Nhã Ca, Lệ Hằng lại vẽ ra cái tâm linh táo bạo của người phụ nữ thời đại, chao đảo trước một thứ nữ quyền vừa thành hình qua sự nhận diện thân xác, và bị dằn vặt trong một xã hội vẫn còn chưa hẳn thoát khỏi đạo lý Khổng Mạnh.

 

Có khi văn chương lại được viết bằng ngôn ngữ đặc thù miền Nam như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bà Tùng Long.  

 

Cũng không thiếu những nhà văn đã viết về đời quân ngũ như Văn Quang, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam.

 

Nếu phân loại theo các nhóm văn chương trong giai đoạn 1954-1963, chúng ta có thể kể đến nhóm Sáng tạo (Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền), nhóm Hiện Đại(Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca), nhóm Hành Trình (Nguyễn Văn Trung, Trịnh Viết Thành, Thảo Trường), nhóm Quan Điểm (Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng), nhóm Phổ Thông(Nguyễn Vỹ, Tôn Nữ Hỷ Khương, Lâm Vị Thủy, Tuệ Mai), nhóm Tao Đàn (Đinh Hùng, Tô Kiều Ngân), nhóm Tinh Việt Văn Đoàn (các nhà văn và học giả Công Giáo), Nhóm Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Quách Thoại), nhóm Nhân Loại (Anh Đào, Tam Ích, Sơn Nam)  nhóm Mùa Lúa Mới (Võ Phiến, Đỗ Tốn).

 

Giai đoạn từ 1963-1975, các nhóm văn chương trở nên ít hơn, nhường chỗ cho các tạp chí quy tụ rộng rãi các nhà văn thơ từ khắp nơi và không phân biệt khuynh hướng, như Tạp chí Bách Khoa, Tạp chí Văn, Tạp chí Thế Kỷ 20, Tạp chí Thời Tập, Tuần báo văn chương Khởi Hành, Tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ. Đây là thời chiến tranh khốc liệt, các truyện ngắn và thơ hiện thực về chiến tranh được sáng tác từ những nơi khói lửa và xa đô thị đã được xuất bản để bày tỏ cảm nghĩ. Chỉ có ít nhóm văn chương thời kỳ này, như nhóm Trình Bầy (Nguyễn Văn Trung, Thế Nguyên, Diễm Châu) và vài nhóm cách xa Sài Gòn như nhóm Khai Phá ở Châu Đốc (Ngô Nguyên Nghiễm, Lâm Hảo Dũng)  nhóm Ý Thức ở Miền Trung (Nguyên Minh, Lữ Kiều, Lữ Quỳnh).

 

 

Thành tựu và chỗ đứng của văn học miền Nam đến ngày 30.04.1975

 

Đây là một nền văn học đích thực - vì nó không mị dân, không tuyên truyền cho một chế độ. Người cầm bút có quyền viết bày tỏ sự suy nghĩ, sáng tạo, hay dựng truyện tùy theo cảm nghĩ của mình, không lệ thuộc vào bất cứ một tổ chức chính trị nào mà cũng không nhắm đến một ai cả.

 

Ngay trong lòng thủ đô Sài Gòn, bên cạnh Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Nguyễn văn Bông -  thì có Vũ Hạnh, Lữ Phương, Nguyễn Ngọc Lan, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San, lại có Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy, Lê Khắc Minh Nhựt  Đoàn Văn Toại. Một bên văn chương gắn liền với chính trị - nói cách khác là chính trị hóa văn chương - còn bên kia là tự do hoàn toàn. Không ai không biết họ là những người cộng sản nằm vùng, sử dụng văn học và báo chí như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho những mưu đồ. Ở miền Nam, nhà văn chân chính chỉ có trách nhiệm với ngòi bút và độc giả. Chính trị đã có chính quyền và luật pháp.

 

Lớp trẻ bụi đời thích đọc Duyên Anh. Lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Lớp phụ nữ tân tiến, nhận thức chính mình qua thân xác chuộng kiểu viết của Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Lệ Hằng. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu – nhưng là những tác giả khó, đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long. Học sinh trường Pháp đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

 

Trong hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, văn học Miền Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn không những trong lãnh vực sáng tác mà còn trong các lãnh vực dịch thuật, phê bình, lý luận và nghiên cứu. Rất tiếc, sau khi chiến tranh kết thúc, những người cầm bút nếu không bị bắt bớ thì cũng bị cấm hoạt động - còn sách báo nếu không bị tiêu hủy thì cũng bị cấm lưu hành, các thành tựu nếu không bị xuyên tạc và bôi nhọ thì cũng bị dập vùi vào quên lãng. Một số cây bút ở hải ngoại đã tìm cách để phục hồi nền văn học ấy nhưng tất cả đều là những nỗ lực cá nhân mà thôi.

 

 

Mỗi nhà văn có một vùng khai phá riêng. Tính chất đa dạng ấy khiến cho văn học miền Nam, qua các ngòi bút khác nhau, đã phản ảnh được thân phận con người trong xã hội chiến tranh, bằng những hình thức sáng tạo mới, khác hẳn tiền chiến, tạo cho văn học Việt Nam một bộ mặt trưởng thành trong tâm thức nhà văn và tâm thức độc giả.


 
Các tin tức khác[Quay về] 
 
    Giáo xứ Chu-Hải 60 năm nhìn lại 1956-2016.  (17/4)
    NGÀY VĂN HÓA VIETNAM  (8/4)
    THƯ MỜI: THAM GIA CUỘC BIỂU TÌNH TẨY CHAY VĂN CÔNG CỘNG SẢN ĐÀM VĨNH HƯNG tại Horsens 24.3.2016  (18/3)
    ”Nhìn” ra Thiên Chúa nơi thời gian - Nguyễn Trọng Lưu  (29/1)
    XUÂN ÂN TÌNH 2016 (cđ SJÆLLAND)  (20/1)
    Đón Mừng Xuân 2016 - Hành Trình Viễn Xứ  (20/1)
    Đức Quốc_ Thư mời tham dự: Hội Xuân Bính Thân 2016 tại Mönchengladbach 13.02.2016  (4/1)
    ĐÓN GIAO THƯA GIŨA PHỐ ÅRHUS _DK  (30/11)
    Đức Quốc: Ngày Quốc Tế Nhân Quyền tổ chức tại Berlin, thứ bảy 12.12.2015  (29/11)
    Hội Bác Ái Vinh Sơn Phaolô  (29/11)
 
  • Xem danh sách tin thuộc nhóm tin này



  • VIDEO RFA

       VIDEO RFA 

       VIDEO VOA  


    Nội dung và quan điểm của những bài viết trên trang Web này thuộc về tác giả. Vinanet.dk không chịu trách nhiệm về nội dung cũng như quan điểm của bài viết.

      HOT LINKS       

    Benzinpriser
    Akut-hjælp
    Midttrafik
    Linkworld.dk
    Valuta   Tỷ giá
    Bilbasen
    Århus.dk
    Home.dk
    Borger.dk
    Boligportal.dk
    Guide.dk
    Den Blå Avis
    TV-Guide
    GulOgGratis
    Bibliotek
    TestDinHastighed
    Postdanmark
    DenDanskeBank
    Finfo
    Team viewer
    DivShare
    CountryCodes
    TV other languages
    Dailigmotion
    Time-Weather
    Ebay
    Youtube
    Imageshack
    Veoh.com
    4shared
    Scribd
    Keepvid
    Archive.org
    Authorstream
    Esnips
    Unikey 4.0
    PhôngChữ
    MediaFire
    Video4Viet
    TV CôngGiáo
    Hyperfileshare
    VieTVusa
    LittleSaigonTV
    Megaupload
    3D album
    TV PhậtGiáo
    Rapidshare
    NCT     mp3.zing
    Tixpod